Tin tức
on Friday 05-07-2024 9:54am
Danh mục: Tin quốc tế
CVPH. Liên Mỹ Dinh – IVFMD SIH – Bệnh viện phụ sản Quốc tế Sài Gòn
Đa thai là biến chứng không mong muốn trong 1 chu kỳ hỗ trợ sinh sản (HTSS) vì có thể gây ra nhiều ảnh hưởng có hại lên mẹ và thai nhi. Vì thế phương án chuyển đơn phôi (elective single embryo transfer - eSET) là một phương án hữu ích và được khuyến cáo sử dụng để giảm thiểu nguy cơ đa thai. Để đạt được tỷ lệ thành công cao của eSET thì nên chọc lọc phôi có tiềm năng làm tổ tốt hơn để chuyển. Các phương án chọn lọc phôi chuyển có thể kể đến như: đánh giá trên hình thái thông thường, nuôi phôi dài ngày, sử dụng timelapse, xét nghiệm di truyền tiền làm tổ (PGT) hoặc sử dụng multi-OMICs. Hiện nay, chọn lọc phôi dựa trên hình thái thông thường được sử dụng rộng rãi nhất vì các ưu điểm như không xâm lấn, nhanh chóng và dễ thực hiện.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra chất lượng hình thái ở giai đoạn phôi phân chia (ngày 3 – N3) hoặc phôi nang (ngày 5,6) có mối tương quan đến kết quả mang thai (kể cả ở những nghiên cứu trên chu kỳ chuyển phôi nguyên bội) và hình thái phôi có thể là 1 chỉ số tham khảo quan trọng để đánh giá tiềm năng phát triển của phôi. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về việc liệu chất lượng hình thái ở phôi N3 có liên quan đến kết cục thai của phôi nang hay không. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng số lượng phôi bào ở phôi N3 có liên quan độc lập với tỷ lệ sinh sống (live birth rate – LBR) của phôi nang. Ngược lại, các nghiên cứu khác lại cho rằng chất lượng hình thái ở ngày 3 không thể dự đoán kết quả thai của phôi nang chất lượng cao (High Quality - HQ).
Trước đây đã có các nghiên cứu về mối tương quan giữa hình thái phôi và tình trạng bội thể của phôi. Nghiên cứu trên phôi N3 cho thấy không có mối tương quan giữa hình thái và tỉ lệ lệch bội của phôi. Tương tự đối với phôi nang, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng dữ liệu về hình thái phôi nang có mối tương quan độc lập đến dữ liệu về sàng lọc lệch bội phôi. Do đó, việc lựa chọn phôi nang nguyên bội thông qua PGT có thể loại bỏ sự can thiệp của lệch bội và cho thấy rõ ràng tác động của hình thái đối với kết quả thai kỳ. Mục đích của nghiên cứu này là xem xét liệu chất lượng hình thái ở phôi N3 có ảnh hưởng đến kết quả thai của phôi nang nguyên bội hay không, nhằm bổ sung cho chiến lược lựa chọn phôi nang trong chu kỳ trữ phôi toàn bộ.
Vật liệu và phương pháp
Đây là nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 1275 bệnh nhân (BN) đã chuyển 1 phôi nang đơn bội từ tháng 1/2016 đến tháng 8/2021. Tiêu chuẩn nhận: BN thực hiện PGT cho sàng lọc các bệnh đơn gene, bất thường cấu trúc và số lượng nhiễm sắc thể (NST) trên cả người vợ hoặc chồng; BN đã chuyển một phôi nang nguyên bội được đông lạnh - rã đông trong chu kỳ đầu tiên. Tiêu chuẩn loại: lạc nội mạc tử cung (LNMTC), bất thường về tử cung (tử cung 1 sừng, tử cung đôi, tử cung có vách ngăn).
Hình thái phôi N3 được xếp loại I, II, III, IV. Loại I và II được xếp vào nhóm chất lượng cao (HQ), loại III và IV xếp vào nhóm chất lượng thấp (low-quality – LQ). Loại IV được loại bỏ. Vào ngày 5 hoặc ngày 6, hình thái phôi được đánh giá theo tiêu chuẩn của Gardner về độ nở rộng khoang phôi, ICM và TE. Phôi nang HQ ít nhất là loại 3BB; còn lại được coi là LQ. Phôi nang xếp loại CC sẽ bị loại bỏ. PGT được thực hiện để sàng lọc các bệnh đơn gen, các bất về cấu trúc và số lượng NST. Phôi nang sau PGT sẽ được trữ lạnh và chỉ thực hiện rã đông để chuyển những phôi nguyên bội.
Kết quả
Có 12,94% (165/1275) phôi nang chuyển phôi có nguồn gốc từ phôi N3 LQ và 87,06% (1110/1275) phôi nang chuyển phôi có nguồn gốc từ phôi N3 HQ (Loại I: 21/1275; Loại II: 1089/1275). Số lượng phôi N5 HQ cao hơn có ý nghĩa thống kê trong nhóm phôi N3 HQ so với nhóm N3 LQ. Ngoài ra, các yếu tố nền khác như tuổi mẹ, nồng độ hormone anti-Mullerian (AMH), BMI, loại vô sinh, phát đồ chuẩn bị nội mạc tử cung (NMTC), độ dày NMTC lúc chuyển phôi, số lượng ngày phôi được đông lạnh không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm.
Tỉ lệ thai lâm sàng (clinical pregnancy rate – CPR) và tỉ lệ LBR của nhóm phôi HQ N3 cao hơn về mặt thống kê so với nhóm phôi LQ N3 (CPR: 59,73% so với 49,70%; LBR: 49,73% so với 41,21%). Số ngày phát triển thành phôi nang không liên quan tới chất lượng hình thái của phôi N3 trên CPR và LBR. Ở phôi nang LQ, CPR và LBR của nhóm phôi N3 HQ cao hơn có ý nghĩa so với nhóm phôi LQ N3. Ở nhóm phôi nang HQ, 2 tỉ lệ CPR và LBR không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm chất lượng phôi N3. Xét riêng từng nhóm, nhóm phôi N3 HQ có mối liên hệ tỉ lệ thuận với CPR và LBR của phôi nang nguyên bội LQ. Tuy nhiên, chất lượng hình thái phôi N3 không liên quan đáng kể tới CPR và LBR của phôi nang HQ.
Kết luận
Nghiên cứu này gợi ý rằng đặc điểm hình thái phôi N3 cung cấp các giá trị tham chiếu khác nhau để lựa chọn phôi nang. Đối với phôi nang HQ, giá trị tham chiếu về chất lượng hình thái N3 thấp. Ngược lại, chất lượng hình thái N3 có thể là một chỉ số tham khảo quan trọng đối với những BN chỉ có phôi nang LQ để chuyển. Những kết quả trên có thể liên quan đến độ linh hoạt và khả năng tự sửa chữa trong quá trình phát triển của phôi. Đặc biệt đối với phôi N3 LQ, phôi thể hiện khả năng tự sửa chữa cực mạnh mẽ để có thể phát triển thành phôi nang HQ. Ngược lại, việc phát triển thành phôi nang LQ cho thấy tiềm năng phát triển của phôi không đủ. Và việc phôi nang LQ bắt nguồn từ phôi N3 HQ cho tỉ lệ CPR và LBR tương tự như phôi nang HQ có nguồn gốc từ phôi N3 LQ đã củng cố ý kiến cho rằng chất lượng hình thái phôi N3 có giá trị tiên đoán cho kết cục thai ở phôi nang LQ.
Nghiên cứu này còn tồn tại một vài hạn chế như: không thể thu thập được tất cả các yếu tố gây nhiễu, cỡ mẫu ít ở một vài nhóm có thể làm giảm sức mạnh thống kê và cuối cùng là không thể loại trừ ảnh hưởng của sinh thiết (số lượng tế bào TE được lấy ra) đối với tiềm năng làm tổ của phôi.
Tóm lại, nghiên cứu này phát hiện ra rằng chất lượng hình thái của phôi N3 có giá trị tham khảo cụ thể để lựa chọn phôi nang nguyên bội. Chất lượng hình thái vào N3 có thể được bỏ qua khi lựa chọn phôi nang nguyên bội HQ. Tuy nhiên, khi chỉ có phôi nang nguyên bội LQ để chuyển, nên sử dụng phôi nang có nguồn gốc từ phôi HQ ngày 3.
Nguồn: Zhang W, Shi H, Niu W, Sun B, Zhang Y, Wang F. Morphological quality on Day 3 affects the pregnancy outcomes of low-quality euploid blastocysts: a retrospective cohort study. Hum Reprod. 2024 Jun 8:deae123. doi: 10.1093/humrep/deae123. Epub ahead of print. PMID: 38852063.
Đa thai là biến chứng không mong muốn trong 1 chu kỳ hỗ trợ sinh sản (HTSS) vì có thể gây ra nhiều ảnh hưởng có hại lên mẹ và thai nhi. Vì thế phương án chuyển đơn phôi (elective single embryo transfer - eSET) là một phương án hữu ích và được khuyến cáo sử dụng để giảm thiểu nguy cơ đa thai. Để đạt được tỷ lệ thành công cao của eSET thì nên chọc lọc phôi có tiềm năng làm tổ tốt hơn để chuyển. Các phương án chọn lọc phôi chuyển có thể kể đến như: đánh giá trên hình thái thông thường, nuôi phôi dài ngày, sử dụng timelapse, xét nghiệm di truyền tiền làm tổ (PGT) hoặc sử dụng multi-OMICs. Hiện nay, chọn lọc phôi dựa trên hình thái thông thường được sử dụng rộng rãi nhất vì các ưu điểm như không xâm lấn, nhanh chóng và dễ thực hiện.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra chất lượng hình thái ở giai đoạn phôi phân chia (ngày 3 – N3) hoặc phôi nang (ngày 5,6) có mối tương quan đến kết quả mang thai (kể cả ở những nghiên cứu trên chu kỳ chuyển phôi nguyên bội) và hình thái phôi có thể là 1 chỉ số tham khảo quan trọng để đánh giá tiềm năng phát triển của phôi. Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu về việc liệu chất lượng hình thái ở phôi N3 có liên quan đến kết cục thai của phôi nang hay không. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng số lượng phôi bào ở phôi N3 có liên quan độc lập với tỷ lệ sinh sống (live birth rate – LBR) của phôi nang. Ngược lại, các nghiên cứu khác lại cho rằng chất lượng hình thái ở ngày 3 không thể dự đoán kết quả thai của phôi nang chất lượng cao (High Quality - HQ).
Trước đây đã có các nghiên cứu về mối tương quan giữa hình thái phôi và tình trạng bội thể của phôi. Nghiên cứu trên phôi N3 cho thấy không có mối tương quan giữa hình thái và tỉ lệ lệch bội của phôi. Tương tự đối với phôi nang, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng dữ liệu về hình thái phôi nang có mối tương quan độc lập đến dữ liệu về sàng lọc lệch bội phôi. Do đó, việc lựa chọn phôi nang nguyên bội thông qua PGT có thể loại bỏ sự can thiệp của lệch bội và cho thấy rõ ràng tác động của hình thái đối với kết quả thai kỳ. Mục đích của nghiên cứu này là xem xét liệu chất lượng hình thái ở phôi N3 có ảnh hưởng đến kết quả thai của phôi nang nguyên bội hay không, nhằm bổ sung cho chiến lược lựa chọn phôi nang trong chu kỳ trữ phôi toàn bộ.
Vật liệu và phương pháp
Đây là nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 1275 bệnh nhân (BN) đã chuyển 1 phôi nang đơn bội từ tháng 1/2016 đến tháng 8/2021. Tiêu chuẩn nhận: BN thực hiện PGT cho sàng lọc các bệnh đơn gene, bất thường cấu trúc và số lượng nhiễm sắc thể (NST) trên cả người vợ hoặc chồng; BN đã chuyển một phôi nang nguyên bội được đông lạnh - rã đông trong chu kỳ đầu tiên. Tiêu chuẩn loại: lạc nội mạc tử cung (LNMTC), bất thường về tử cung (tử cung 1 sừng, tử cung đôi, tử cung có vách ngăn).
Hình thái phôi N3 được xếp loại I, II, III, IV. Loại I và II được xếp vào nhóm chất lượng cao (HQ), loại III và IV xếp vào nhóm chất lượng thấp (low-quality – LQ). Loại IV được loại bỏ. Vào ngày 5 hoặc ngày 6, hình thái phôi được đánh giá theo tiêu chuẩn của Gardner về độ nở rộng khoang phôi, ICM và TE. Phôi nang HQ ít nhất là loại 3BB; còn lại được coi là LQ. Phôi nang xếp loại CC sẽ bị loại bỏ. PGT được thực hiện để sàng lọc các bệnh đơn gen, các bất về cấu trúc và số lượng NST. Phôi nang sau PGT sẽ được trữ lạnh và chỉ thực hiện rã đông để chuyển những phôi nguyên bội.
Kết quả
Có 12,94% (165/1275) phôi nang chuyển phôi có nguồn gốc từ phôi N3 LQ và 87,06% (1110/1275) phôi nang chuyển phôi có nguồn gốc từ phôi N3 HQ (Loại I: 21/1275; Loại II: 1089/1275). Số lượng phôi N5 HQ cao hơn có ý nghĩa thống kê trong nhóm phôi N3 HQ so với nhóm N3 LQ. Ngoài ra, các yếu tố nền khác như tuổi mẹ, nồng độ hormone anti-Mullerian (AMH), BMI, loại vô sinh, phát đồ chuẩn bị nội mạc tử cung (NMTC), độ dày NMTC lúc chuyển phôi, số lượng ngày phôi được đông lạnh không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm.
Tỉ lệ thai lâm sàng (clinical pregnancy rate – CPR) và tỉ lệ LBR của nhóm phôi HQ N3 cao hơn về mặt thống kê so với nhóm phôi LQ N3 (CPR: 59,73% so với 49,70%; LBR: 49,73% so với 41,21%). Số ngày phát triển thành phôi nang không liên quan tới chất lượng hình thái của phôi N3 trên CPR và LBR. Ở phôi nang LQ, CPR và LBR của nhóm phôi N3 HQ cao hơn có ý nghĩa so với nhóm phôi LQ N3. Ở nhóm phôi nang HQ, 2 tỉ lệ CPR và LBR không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm chất lượng phôi N3. Xét riêng từng nhóm, nhóm phôi N3 HQ có mối liên hệ tỉ lệ thuận với CPR và LBR của phôi nang nguyên bội LQ. Tuy nhiên, chất lượng hình thái phôi N3 không liên quan đáng kể tới CPR và LBR của phôi nang HQ.
Kết luận
Nghiên cứu này gợi ý rằng đặc điểm hình thái phôi N3 cung cấp các giá trị tham chiếu khác nhau để lựa chọn phôi nang. Đối với phôi nang HQ, giá trị tham chiếu về chất lượng hình thái N3 thấp. Ngược lại, chất lượng hình thái N3 có thể là một chỉ số tham khảo quan trọng đối với những BN chỉ có phôi nang LQ để chuyển. Những kết quả trên có thể liên quan đến độ linh hoạt và khả năng tự sửa chữa trong quá trình phát triển của phôi. Đặc biệt đối với phôi N3 LQ, phôi thể hiện khả năng tự sửa chữa cực mạnh mẽ để có thể phát triển thành phôi nang HQ. Ngược lại, việc phát triển thành phôi nang LQ cho thấy tiềm năng phát triển của phôi không đủ. Và việc phôi nang LQ bắt nguồn từ phôi N3 HQ cho tỉ lệ CPR và LBR tương tự như phôi nang HQ có nguồn gốc từ phôi N3 LQ đã củng cố ý kiến cho rằng chất lượng hình thái phôi N3 có giá trị tiên đoán cho kết cục thai ở phôi nang LQ.
Nghiên cứu này còn tồn tại một vài hạn chế như: không thể thu thập được tất cả các yếu tố gây nhiễu, cỡ mẫu ít ở một vài nhóm có thể làm giảm sức mạnh thống kê và cuối cùng là không thể loại trừ ảnh hưởng của sinh thiết (số lượng tế bào TE được lấy ra) đối với tiềm năng làm tổ của phôi.
Tóm lại, nghiên cứu này phát hiện ra rằng chất lượng hình thái của phôi N3 có giá trị tham khảo cụ thể để lựa chọn phôi nang nguyên bội. Chất lượng hình thái vào N3 có thể được bỏ qua khi lựa chọn phôi nang nguyên bội HQ. Tuy nhiên, khi chỉ có phôi nang nguyên bội LQ để chuyển, nên sử dụng phôi nang có nguồn gốc từ phôi HQ ngày 3.
Nguồn: Zhang W, Shi H, Niu W, Sun B, Zhang Y, Wang F. Morphological quality on Day 3 affects the pregnancy outcomes of low-quality euploid blastocysts: a retrospective cohort study. Hum Reprod. 2024 Jun 8:deae123. doi: 10.1093/humrep/deae123. Epub ahead of print. PMID: 38852063.
Các tin khác cùng chuyên mục:
Mối tương quan giữa những bất thường về hình dạng và sự phân mảnh DNA tinh trùng người - Ngày đăng: 04-07-2024
Mang thai thành công bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn sau khi phôi nuôi cấy bị nhiễm khuẩn khi thực hiện IVF cổ điển: báo cáo trường hợp - Ngày đăng: 04-07-2024
Bảo tồn khả năng sinh sản: báo cáo trường hợp trẻ sơ sinh sau 13 năm trữ lạnh noãn - Ngày đăng: 04-07-2024
Ứng dụng con đường tín hiệu SIRT để cải thiện chất lượng noãn in-vitro - Ngày đăng: 29-06-2024
Đánh giá mối liên hệ giữa GDF9 ở nang noãn trưởng thành và kết quả lâm sàng với các kiểu hình PCOS khác nhau - Ngày đăng: 29-06-2024
Mối liên quan giữa liều tương đương cyclophosphamide tối thiểu và kết quả thu nhận tinh trùng từ tinh hoàn thông qua vi phẫu ở bệnh nhân vô tinh kéo dài sau hóa trị - Ngày đăng: 24-06-2024
Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sự sinh noãn - Ngày đăng: 22-06-2024
Hiệu quả của hai phương pháp sinh thiết phôi nang trong xét nghiệm di truyển phôi tiền làm tổ - Ngày đăng: 22-06-2024
Hiệu quả ICSI ở bệnh nhân thu nhận tinh trùng từ vi phẫu thuật (MicroTESE), chọc hút tinh trùng tinh hoàn (TESA) và tinh trùng từ tinh dịch - Ngày đăng: 22-06-2024
Kết cục thai kỳ TTTON - xin noãn ở những phụ nữ Adenomyosis chẩn đoán bằng siêu âm MUSA - Ngày đăng: 22-06-2024
Ảnh hưởng của stress đến từng giai đoạn của quy trình IVF: Một nghiên cứu tổng quan hệ thống - Ngày đăng: 22-06-2024
Các yếu tố liên quan đến hiện tượng khảm của phôi: tổng quan hệ thống và phân tích tổng hợp - Ngày đăng: 20-06-2024
TIN CẬP NHẬT
TIN CHUYÊN NGÀNH
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020
Thứ bảy ngày 22 . 02 . 2025
Năm 2020
Windsor Plaza Hotel, Chủ Nhật ngày 15 . 12 . 2024
Năm 2020
Windsor Plaza Hotel, Thứ Bảy 14.12 . 2024
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI
Sách ra mắt ngày 10 . 10 . 2024
Y học sinh sản 59 - Bệnh truyền nhiễm và thai kỳ
Y học sinh sản 58 - Thai kỳ và các bệnh lý nội tiết, chuyển ...
FACEBOOK