Tin tức
on Sunday 26-04-2020 10:54pm
Danh mục: Tin quốc tế
CVPH. Trịnh Thị Thùy Trang - IVFVH
Một trong những thách thức quan trọng nhất trong IVF xoay quanh việc lựa chọn đơn phôi để chuyển và sinh con khỏe mạnh trong thời gian ngắn nhất có thể. Trong vài năm qua, timelapse ngày càng được sử dụng để cải thiện kết quả của việc lựa chọn phôi từ đánh giá hình thái truyền thống. Bộ nhiễm sắc thể (ploidy) của phôi không thể được dự đoán thông qua hình thái phôi mà phải dùng sinh học phân tử để đánh giá mặc dù một số đặc điểm hình thái có thể liên quan đến tỷ lệ lệch bội cao hơn. Trong việc lựa chọn phôi để chuyển cho bệnh nhân, khi kết hợp giữa đặc điểm hình thái với PGT-A và công nghệ time-lapse, có sự cải thiện rõ rệt về tỉ lệ làm tổ. Timelapse cho phép các chuyên viên phôi học theo dõi đầy đủ các sự kiện trong quá trình phát triển của phôi. Một trong những sự kiện có thể quan sát được nhờ timelapse là sự co lại của phôi (embryo contraction). Theo báo cáo năm 1929, sự co lại của phôi được định nghĩa là sự phân tách tự phát của vùng trong suốt (pellucid zone) và trophectoderm chỉ xảy ra từ giai đoạn phôi nang sớm. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng này vẫn chưa được biết rõ. Sự mở rộng phôi được gây ra bởi một dòng chất lỏng ngoại bào thông qua các kênh nước aquaporin (AQP3 / AQP9) vào các tế bào trophectoderm do tăng nồng độ ion trong khoang bào (blastocoel). Các tài liệu trước đây cho thấy sự co lại của phôi có thể ức chế phôi nang thoát màng ở chuột, trong khi ở người, nó có thể liên quan đến việc làm giảm tỉ lệ làm tổ và tốc độ phân chia sau khi cấy ghép. Sự co lại của phôi và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển và khả năng tồn tại của phôi ít được nghiên cứu.
.png)
Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự co lại của phôi bình thường sau PGT-A và để đánh giá liệu có mối quan hệ nào giữa sự co phôi, tỉ lệ lệch bội và tỉ lệ làm tổ.
Nghiên cứu bao gồm 912 phôi từ 270 bệnh nhân. Phương pháp giải trình tự thế hệ mới (next generation sequencing – NGS) được sử dụng để kiểm tra 778 trong số 912 phôi về lệch bội. Sự co của phôi nang được đánh giá bằng cách sử dụng công cụ vẽ phôi để tính toán phần trăm co lại. Tổng cộng có 182 lần chuyển đơn phôi.
Kết quả:
Phôi được chia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất là phôi co lại (nhóm CT) và nhóm thứ hai phôi không co lại (nhóm SE). Về tình trạng NST, 58,33% phôi trong nhóm SE là nguyên bội, trong khi 53,58% phôi trong nhóm CT là lệch bội. Sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê (p = 0,029), cho thấy phôi không co lại có khả năng nguyên bội cao hơn phôi co lại. Tỷ lệ có thai cũng cao hơn đáng kể giữa các phôi trong nhóm SE so với nhóm CT (63,10% so với 46,67%; p = 0,012). Cuối cùng, phôi trong nhóm CT mất nhiều thời gian hơn để đạt đến giai đoạn phôi nang so với phôi trong nhóm SE (105,28h so với 101,84h, p = 0,004). Tuổi của bệnh nhân không khác biệt đáng kể giữa các nhóm CT và SE, cho thấy tuổi có thể không phải là yếu tố gây co phôi.
Kết luận:
Phôi trong nhóm CT có tỷ lệ làm tổ thấp hơn, mất nhiều thời gian hơn để đạt đến giai đoạn phôi nang và có khả năng lệch bội cao hơn, bất kể tuổi mẹ. Do đó, sự co lại của phôi có thể là một tham số hữu ích trong việc lựa chọn phôi để chuyển.
Nguồn: Blastocyst contractions are strongly related with aneuploidy, lower implantation rates, and slow-cleaving embryos: a time lapse study. JBRA Assist Reprod. 2020 Jan 30;24(1):77-81. doi: 10.5935/1518-0557.20190053.
Một trong những thách thức quan trọng nhất trong IVF xoay quanh việc lựa chọn đơn phôi để chuyển và sinh con khỏe mạnh trong thời gian ngắn nhất có thể. Trong vài năm qua, timelapse ngày càng được sử dụng để cải thiện kết quả của việc lựa chọn phôi từ đánh giá hình thái truyền thống. Bộ nhiễm sắc thể (ploidy) của phôi không thể được dự đoán thông qua hình thái phôi mà phải dùng sinh học phân tử để đánh giá mặc dù một số đặc điểm hình thái có thể liên quan đến tỷ lệ lệch bội cao hơn. Trong việc lựa chọn phôi để chuyển cho bệnh nhân, khi kết hợp giữa đặc điểm hình thái với PGT-A và công nghệ time-lapse, có sự cải thiện rõ rệt về tỉ lệ làm tổ. Timelapse cho phép các chuyên viên phôi học theo dõi đầy đủ các sự kiện trong quá trình phát triển của phôi. Một trong những sự kiện có thể quan sát được nhờ timelapse là sự co lại của phôi (embryo contraction). Theo báo cáo năm 1929, sự co lại của phôi được định nghĩa là sự phân tách tự phát của vùng trong suốt (pellucid zone) và trophectoderm chỉ xảy ra từ giai đoạn phôi nang sớm. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng này vẫn chưa được biết rõ. Sự mở rộng phôi được gây ra bởi một dòng chất lỏng ngoại bào thông qua các kênh nước aquaporin (AQP3 / AQP9) vào các tế bào trophectoderm do tăng nồng độ ion trong khoang bào (blastocoel). Các tài liệu trước đây cho thấy sự co lại của phôi có thể ức chế phôi nang thoát màng ở chuột, trong khi ở người, nó có thể liên quan đến việc làm giảm tỉ lệ làm tổ và tốc độ phân chia sau khi cấy ghép. Sự co lại của phôi và ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển và khả năng tồn tại của phôi ít được nghiên cứu.
.png)
Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự co lại của phôi bình thường sau PGT-A và để đánh giá liệu có mối quan hệ nào giữa sự co phôi, tỉ lệ lệch bội và tỉ lệ làm tổ.
Nghiên cứu bao gồm 912 phôi từ 270 bệnh nhân. Phương pháp giải trình tự thế hệ mới (next generation sequencing – NGS) được sử dụng để kiểm tra 778 trong số 912 phôi về lệch bội. Sự co của phôi nang được đánh giá bằng cách sử dụng công cụ vẽ phôi để tính toán phần trăm co lại. Tổng cộng có 182 lần chuyển đơn phôi.
Kết quả:
Phôi được chia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất là phôi co lại (nhóm CT) và nhóm thứ hai phôi không co lại (nhóm SE). Về tình trạng NST, 58,33% phôi trong nhóm SE là nguyên bội, trong khi 53,58% phôi trong nhóm CT là lệch bội. Sự khác biệt giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê (p = 0,029), cho thấy phôi không co lại có khả năng nguyên bội cao hơn phôi co lại. Tỷ lệ có thai cũng cao hơn đáng kể giữa các phôi trong nhóm SE so với nhóm CT (63,10% so với 46,67%; p = 0,012). Cuối cùng, phôi trong nhóm CT mất nhiều thời gian hơn để đạt đến giai đoạn phôi nang so với phôi trong nhóm SE (105,28h so với 101,84h, p = 0,004). Tuổi của bệnh nhân không khác biệt đáng kể giữa các nhóm CT và SE, cho thấy tuổi có thể không phải là yếu tố gây co phôi.
Kết luận:
Phôi trong nhóm CT có tỷ lệ làm tổ thấp hơn, mất nhiều thời gian hơn để đạt đến giai đoạn phôi nang và có khả năng lệch bội cao hơn, bất kể tuổi mẹ. Do đó, sự co lại của phôi có thể là một tham số hữu ích trong việc lựa chọn phôi để chuyển.
Nguồn: Blastocyst contractions are strongly related with aneuploidy, lower implantation rates, and slow-cleaving embryos: a time lapse study. JBRA Assist Reprod. 2020 Jan 30;24(1):77-81. doi: 10.5935/1518-0557.20190053.
Các tin khác cùng chuyên mục:











THƯ VIÊN
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020
New World Saigon hotel, Thứ bảy ngày 14 . 6 . 2025
Năm 2020
New World Saigon hotel, Chủ Nhật ngày 15 . 06 . 2025
Năm 2020
Cập nhật lịch tổ chức sự kiện và xuất bản ấn phẩm của ...
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Kính mời quý đồng nghiệp quan tâm đến hỗ trợ sinh sản tham ...

Y học sinh sản số 73 (Quý I . 2025) ra mắt ngày 20 . 3 . 2025 và ...

Sách ra mắt ngày 6 . 1 . 2025 và gửi đến quý hội viên trước ...
FACEBOOK