Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh TPHCM
HOSREM - Ho Chi Minh City Society for Reproductive Medicine

Tin tức
on Wednesday 12-01-2022 11:38pm
Viết bởi: Khoa Pham
Danh mục: Tin quốc tế
NHS. Trần Xuân Hiền – IVFMD Bình Dương - BV Đa khoa Phương Chi    
                                                     
Nhiều bằng chứng cho thấy dinh dưỡng có tầm quan trọng đối với khả năng sinh sản và phát triển của con người. Nhiều nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng tuân thủ chặt chẽ mô hình ăn kiêng Địa Trung Hải và mô hình ăn kiêng thiên về lượng protein thực vật, carbohydrate với đường phân thấp, chất béo không bão hòa và bổ sung axit folic và sắt có liên quan đến giảm nguy cơ vô sinh. Ngược lại, tuân thủ chế độ ăn kiêng “Phương Tây” có liên quan đến việc tăng mắc hội chứng buồng trứng đa nang. Những nghiên cứu gần đây cũng đã liên kết việc áp dụng các chế độ ăn uống cụ thể liên quan đến kết quả hỗ trợ sinh sản bao gồm tiêu thụ axit folic và vitamin B-12, thực phẩm từ sữa, đậu nành và trái cây có dư lượng thuốc trừ sâu thấp và ngũ cốc nguyên hạt. Mặc dù kiến thức ngày nay tăng, nhưng những hiểu biết về việc ăn thịt và những thức ăn giàu protein ảnh hưởng như thế nào đến kết quả điều trị vô sinh vẫn còn ít. Nguồn protein thay đổi đáng kể về thành phần dinh dưỡng do thành phần sinh học khác nhau của chúng trong quá trình chế biến và nấu ăn. Không có gì đáng ngạc nhiên khi có mối liên quan giữa protein và nguy cơ mắc các bệnh mãn tính khác nhau. Ví dụ, tiêu thụ thịt đỏ và thịt đã qua chế biến liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn, trong khi cá và các nguồn protein thực vật có liên quan đến giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Các nghiên cứu trước đây đánh giá mối liên quan giữa lượng thịt ăn vào và chất lượng tinh dịch đã tìm thấy thịt đã qua chế biến có liên quan đến chất lượng tinh dịch thấp, trong khi lượng cá có liên quan đến chất lượng tinh dịch cao hơn ở nam giới trong các cặp vợ chồng hiếm muộn. Tuy nhiên, những khác biệt này không chuyển thành sự khác biệt về kết quả điều trị. Một vài nghiên cứu trên bệnh nhân hiếm muộn cho thấy lượng tiêu thụ thịt đỏ và thịt đã qua chế biến có liên quan đến tỷ lệ thành công thấp hơn, trong khi lượng cá ăn nhiều hơn sẽ liên quan đến thành công cao hơn so với tỷ lệ và lượng thức ăn giàu protein khác sẽ không liên quan đến tỷ lệ thành công, nhưng vai trò của việc ăn thịt và những thức ăn giàu protein vẫn còn chưa rõ ràng. Do vậy nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu này để tìm hiểu mối liên quan giữa việc ăn thịt và những thức ăn giàu protein đến kết quả điều trị HTSS.
 
Đây là nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu được thực hiện trên 351 phụ nữ tại Trung tâm Sinh sản bệnh viện Đa khoa Massachusetts và trải qua 598 chu kỳ điều trị vô sinh từ tháng 8 năm 2017. Lượng thịt ăn vào được đánh giá bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm đã được xác thực và kết quả ART được tóm tắt từ hồ sơ điện tử. Nhóm tác giả đã ước tính mối tương quan giữa lượng tiêu thụ thực phẩm giàu protein (thịt, trứng, đậu, các loại hạt và đậu nành) và kết quả trẻ sinh sống trên mỗi chu kỳ ban đầu sử dụng các mô hình tuyến tính tổng quát.
 
Kết quả cho thấy tổng lượng thịt trung bình là 1,2 khẩu phần/ngày, với hầu hết đến từ gia cầm (35%), cá (25%), thịt chế biến (22%), và thịt đỏ (17%). Lượng cá ăn vào có liên quan tích cực đến tỷ lệ của các chu kỳ có trẻ sinh sống. Lượng cá ăn vào được chia thành các khoảng tứ phân vị. Xác suất có trẻ sinh sống được điều chỉnh đa biến tăng dần theo các khoảng tứ phân vị của lượng cá tiêu thụ, lần lượt là 34,2% (95% CI 26,5% - 42,9%), 38,4% (95% CI 30,3% - 47,3%), 44,7% (95% CI 36,3% - 53,4%) và 47,7% (95% CI 38,3% - 57,3%) (P-trend = 0,04). Trong phân tích thay thế ước tính, OR của trẻ sinh sống liên quan đến việc tăng lượng cá ăn 2 phần / tuần là 1,54 (95% CI 1,14 - 2,07) khi cá thay thế bất kỳ loại thịt nào khác, 1,50 (95% CI 1,13 - 1,98) khi cá thay thế bất kỳ thực phẩm giàu protein nào khác và 1,64 (95% CI 1,14 - 2,35) khi cá thay thế thịt chế biến.
 
Tóm lại, những phụ nữ có lượng cá tiêu thụ trước điều trị cao hơn có tỷ lệ trẻ sinh sống sau ART cao hơn. Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng cho thấy rằng ăn cá có thể dẫn đến cải thiện khả năng sinh sản ở con người. Cần thêm nghiên cứu hoặc các thử nghiệm ngẫu nhiên đặc biệt trên các cặp vợ chồng đang cố gắng thụ thai một cách tự nhiên để xác định vai trò của chế độ ăn đối với khả năng sinh sản.
 
Nguồn: Feiby L Nassan et al. Intake of protein-rich foods in relation to outcomes of infertility treatment with assisted reproductive technologies. The American Journal of Clinical Nutrition, Volume 108, Issue 5, November 2018, Pages 1104–1112, https://doi.org/10.1093/ajcn/nqy185.

Các tin khác cùng chuyên mục:
TIN CẬP NHẬT
TIN CHUYÊN NGÀNH
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020

Sheraton Saigon Hotel & Towers, Thứ bảy, ngày 16 tháng 07 năm 2022 ...

Năm 2020

Sheraton Saigon Hotel & Towers, Chủ nhật ngày 17 . 7 . 2022

Năm 2020

Sheraton Saigon Hotel & Towers, sáng thứ bảy ngày 16 tháng 7 năm 2022

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Y học sinh sản tập 62 ra mắt ngày 10 . 8 . 2022

Sách ra mắt ngày 26 . 7 . 2022, quý độc giả quan tâm vui lòng liên ...

Đây là một quyển sách chuyên khảo do các chuyên gia Việt Nam ...

ĐỐI TÁC
FACEBOOK