CNSH. Phan Thanh Chi - IVFMD Tân Bình
Việc sử dụng noãn hiến tặng đã được thế giới chấp thuận như một lựa chọn điều trị thành công cho các cá nhân hoặc cặp đôi phải đối mặt với tình trạng vô sinh do chất lượng noãn giảm, mang đột biến di truyền nguy cơ cao hay các cặp đôi đồng giới nam. Các ngân hàng noãn theo đó ra đời với khả năng tiếp cận và kiểm soát chất lượng noãn của người hiến ngày một cải thiện. Nhờ vào những tiến bộ trong kỹ thuật bảo quản đông lạnh noãn như thuỷ tinh hoá, tỉ lệ noãn sống sau rã đông tăng cũng như tỉ lệ thụ tinh và trẻ sinh sống tương tự như khi sử dụng noãn tươi. Tuy nhiên, quá trình thủy tinh hóa có thể làm dày lớp màng trong suốt và phương pháp hỗ trợ phôi thoát màng (assisted hatching - AH) cho thấy các kết quả khác nhau trong việc giải quyết vấn đề này. Cụ thể, các nhà nghiên cứu ban đầu đưa ra giả thuyết rằng AH có thể hỗ trợ cho quá trình làm tổ của phôi, do đó sẽ tăng tỷ lệ mang thai lâm sàng và tỷ lệ trẻ sinh sống, đặc biệt với các trường hợp tuổi mẹ cao, các chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (in vitro fertilization - IVF) trước đó không thành công, chất lượng phôi kém và phôi được bảo quản đông lạnh. Trong khi đó, một thử nghiệm năm 2005 không tìm thấy sự cải thiện nào về tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ mang thai và đa thai ở nhóm có AH. Một phân tích khác năm 2014 cho thấy tỷ lệ trẻ sinh sống giảm và không tìm thấy nguy cơ đa thai đơn hợp tử khi AH ở những bệnh nhân có dự trữ buồng trứng giảm. Chỉ duy nhất một nghiên cứu nhỏ về noãn của người hiến tặng cho thấy AH có thể cải thiện tỷ lệ làm tổ nhưng không làm tăng tỷ lệ trẻ sinh sống. Với những mâu thuẫn hiện có, mục tiêu chính của nghiên cứu này là tìm hiểu tác động của AH đến quá trình làm tổ và mang thai trong quá trình chuyển phôi nang từ noãn của người hiến tặng đã được thủy tinh hóa, đưa ra giả thuyết về kết quả mang thai tương tự giữa phôi AH và phôi không AH.
Đây là một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu nhằm đánh giá tác động của AH trên kết quả thai kỳ. Cụ thể, nghiên cứu phân tích tất cả các chu kỳ nhận noãn của người hiến tặng thuộc Ngân Hàng Noãn Hiến Tặng Hoa Kỳ từ ngày 1 tháng 1 năm 2015 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020. Tiêu chí nhận nghiên cứu bao gồm các trường hợp chuyển phôi nang từ noãn tươi được hiến tặng đã được đông lạnh bằng thủy tinh hóa; phôi có chất lượng tốt và đủ điều kiện để làm tổ; không có tiền sử rối loạn nội mạc tử cung nghiêm trọng hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình làm tổ. Các chỉ số chính được đánh giá trong nghiên cứu bao gồm tỷ lệ làm tổ (implantation rate), tỷ lệ thai lâm sàng (clinical pregnancy rate), tỷ lệ sảy thai tự nhiên (spontaneous abortion rate) và tỷ lệ thai tiếp diễn (ongoing pregnancy rate).
Nghiên cứu đã phân tích 2617 chu kỳ nhận noãn của người hiến tặng, trong đó AH đã được thực hiện cho 1668 trường hợp và còn lại 949 trường hợp thuộc nhóm không can thiệp AH. Tỷ lệ thai sinh hóa trên mỗi lần chuyển phôi (embryo transfer - ET) thấp hơn đáng kể ở nhóm AH (72%) so với nhóm không AH (76%; tỷ lệ nguy cơ đã điều chỉnh [aRR] 0,94, KTC 95% 0,9–0,99, P <0,01). Tương tự như vậy, tỷ lệ thai lâm sàng trên mỗi ET giảm ở nhóm AH (61% so với 66%; aRR 0,92, KTC 95% 0,86–0,97, P <0,01), cũng như tỷ lệ thai tiếp diễn (57% AH so với 62% không AH, P <0,01). Mặc dù tỷ lệ sảy thai tự nhiên cao hơn về mặt số lượng ở nhóm AH (13% so với 11%), nhưng sự khác biệt này không đạt được ý nghĩa thống kê (P = 0,32). Tỷ lệ sinh đôi cùng trứng và đa thai tương đương nhau giữa các nhóm. Trong phân tích phụ về tế bào noãn anh chị em ruột, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào về kết quả được tìm thấy giữa phôi AH và phôi không AH, mặc dù nhóm không AH cho thấy xu hướng có lợi hơn.
Tóm lại, những phát hiện này chỉ ra rằng AH trong chu kỳ noãn của người hiến tặng được thủy tinh hóa có liên quan đến việc giảm tỷ lệ mang thai sinh hóa, thai lâm sàng và thai tiếp diễn, đặt ra câu hỏi về lợi ích của việc sử dụng AH thường quy cho nhóm bệnh nhân này. Quan trọng là AH gây ra thêm chi phí và sự phức tạp trong phòng thí nghiệm mà không có lợi ích lâm sàng rõ ràng. Mặc dù những hạn chế bao gồm thiết kế hồi cứu, các phác đồ khác nhau giữa các trung tâm và thiếu dữ liệu về ca sinh sống, nhưng tính nhất quán của tỷ lệ mang thai giảm trong nhiều phân tích củng cố kết luận. Do đó, bằng chứng hiện tại không hỗ trợ AH thường quy trong các chu kỳ tế bào noãn của người hiến tặng được đông lạnh và việc sử dụng nó nên được xem xét lại do tác động tiêu cực tiềm ẩn đến kết quả sinh sản. Các thử nghiệm ngẫu nhiên tiến cứu, quy mô lớn trong tương lai là cần thiết để đánh giá chắc chắn lợi ích của AH và làm sáng tỏ nhóm bệnh nhân nào, nếu có, có thể được hưởng lợi từ biện pháp can thiệp này.
Nguồn: Amalia Namath, Jonathan M. Konel, Jing Wu, Adina Schwartz, Wayne Caswell, Jeanne E. O’Brien, Stephanie Beall, Assisted hatching decreases pregnancy outcomes in vitrified donor oocytes, Fertility and Sterility, 2025, ISSN 0015-0282, https://doi.org/10.1016/j.fertnstert.2025.03.005.












Khách sạn Equatorial, chủ nhật ngày 23 . 11 . 2025
Ngày 9 - 10 . 8 . 2025, Vinpearl Landmark 81 (Số 720A Điện BIên Phủ, ...
Vinpearl Landmark 81, chiều thứ bảy 9 . 8 . 2025 (13:00 - 16:30)

Sách “Bài giảng Thực hành Sản khoa” do các giảng viên Bộ ...

Sách ra mắt ngày 11 . 7 . 2025 và gửi đến quý hội viên trước ...

Kính mời quý đồng nghiệp quan tâm đến hỗ trợ sinh sản tham ...