Giới thiệu
Vô sinh là vấn đề sức khỏe toàn cầu, ảnh hưởng tới khoảng một trong bảy cặp vợ chồng, trong đó yếu tố nam giới chiếm khoảng 40% trường hợp. Viêm đường sinh dục nam, dù thường không có triệu chứng, có thể góp phần đáng kể vào vô sinh và được phát hiện tình cờ qua phân tích tinh dịch đồ. Một dấu hiệu gợi ý là tăng bạch cầu trong tinh dịch, tuy nhiên mối liên quan giữa tình trạng này và vô sinh vẫn còn tranh cãi. Hướng dẫn EAU 2024 khuyến nghị chỉ điều trị kháng sinh khi có bằng chứng nhiễm khuẩn, và điều trị kháng viêm khi viêm không do nhiễm khuẩn. Do số lượng bạch cầu chưa phản ánh đầy đủ nguy cơ suy giảm khả năng sinh sản, nồng độ elastase bạch cầu (leukocyte elastase - LE) trong tinh dịch đã được đề xuất như một chỉ dấu thay thế với ngưỡng ≥250–290μg/L liên quan tới viêm đường sinh dục ở nam vô sinh. LE có thể thúc đẩy sản sinh các gốc oxy hóa (reactive oxygen species - ROS), gây tổn thương DNA và cấu trúc tinh trùng (TT), nhưng mối liên hệ giữa nồng độ LE với chất lượng TT và kết quả mang thai vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu (NC) này tiến hành tổng quan hệ thống đánh giá mối liên quan tiềm năng giữa LE và các chỉ số tinh dịch đồ, cũng như ảnh hưởng đến kết quả lâm sàng trong hỗ trợ sinh sản, với giả thuyết rằng LE liên quan đáng kể đến bất thường TT và có thể tác động đến kết quả sinh sản.
Phương pháp
NC được tiến hành dưới dạng tổng quan hệ thống tuân thủ hướng dẫn PRISMA, tìm kiếm các công trình công bố trên cơ sở dữ liệu PubMed, Medline, Embase và Scopus từ ngày 22–25/3/2024, sử dụng các từ khóa “elastase”, “sperm” và “semen”. Trong tổng số 897 bài được xác định, sau sàng lọc tiêu đề và tóm tắt, 334 bài được xem xét toàn văn, và cuối cùng 28NC đáp ứng tiêu chí đưa vào phân tích. Các thông tin được trích xuất bao gồm: đặc điểm NC, phương pháp đo LE, đặc điểm quần thể NC, nồng độ LE, các thông số tinh dịch đồ theo tiêu chuẩn Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization - WHO) và các kết quả lâm sàng (thụ tinh, mang thai, sẩy thai).
Kết quả
Đặc điểm các NC
Tổng quan hệ thống bao gồm 28NC quan sát với tổng cộng 13.716 đối tượng, trung bình khoảng 490 mẫu mỗi NC. Trong đó, 14NC cắt ngang, 10NC đoàn hệ tiến cứu, 2NC đoàn hệ hồi cứu và 1NC không nêu rõ loại hình đoàn hệ. Thông số tinh dịch được phân tích nhiều nhất là nồng độ LE (23NC), tiếp theo là tổng TT di động (11NC), mật độ TT và hình dạng TT (mỗi loại 10NC), vận động tiến tới (10NC), thể tích tinh dịch (9NC), tổng số TT (7NC) và chỉ số phân mảnh DNA TT (DNA fragmentation index - DFI) (4NC). Về kết cục lâm sàng, chỉ có 2NC đánh giá tỷ lệ thụ thai và thụ tinh, và 1NC phân tích tỷ lệ sẩy thai. Trong số 28NC, 16NC được thực hiện trên nam giới vô sinh, còn 12NC tiến hành tại các phòng khám nam khoa hoặc trung tâm hỗ trợ sinh sản.
Đánh giá chất lượng và nguy cơ sai lệch của các NC
Chất lượng và nguy cơ sai lệch của 28NC được đánh giá bằng công cụ của Viện Tim, Phổi và Huyết học Hoa Kỳ dành cho các NC đoàn hệ và NC cắt ngang quan sát, nhằm xác định mức độ mà kết quả phản ánh chính xác tác động của LE cũng như những sai số tiềm ẩn trong thiết kế và thực hiện. Chất lượng NC được xếp hạng thành thấp (0–5 điểm), trung bình (6–10 điểm) hoặc cao (11–15 điểm). Hầu hết các NC trong tổng quan được xếp loại chất lượng trung bình (21NC), tiếp đến là chất lượng cao (6NC) và chỉ 1NC có chất lượng thấp. Những NC có chất lượng từ thấp đến trung bình được xem là có nguy cơ sai lệch cao hơn.
Mối tương quan giữa nồng độ LE với các thông số tinh dịch đồ và mật độ bạch cầu
Phân tích 14NC đánh giá mối liên hệ giữa nồng độ LE và các thông số tinh dịch đồ cho thấy chỉ 1NC phân tích đầy đủ tất cả các thông số TT thiết yếu. Không có NC nào ghi nhận mối tương quan có ý nghĩa giữa LE và mật độ TT, và chỉ 1NC phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa với tổng số TT. Trong số 9NC phân tích thể tích tinh dịch, 5NC báo cáo mối tương quan ngược có ý nghĩa, cho thấy LE cao có thể liên quan đến giảm thể tích tinh dịch. Với hình dạng TT, chỉ 2NC ghi nhận tương quan ngược đáng kể; với di động tiến tới, 3/10 NC cho kết quả tương tự, và với di động toàn phần, chỉ 2/11 NC tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa. Về chỉ số DFI, chỉ 1NC cho thấy tương quan ngược với LE. Trong 10NC đánh giá mối liên hệ giữa LE và mật độ bạch cầu, 3NC ghi nhận mối tương quan đáng kể và 4NC cho kết quả tương tự khi LE vượt ngưỡng cao hơn. Một số NC phân nhóm mẫu theo ngưỡng LE khác nhau cũng cho thấy nhóm có LE cao thường có tổng số lượng TT, thể tích và di động tiến tới thấp hơn, mặc dù nhiều trường hợp vẫn nằm trong giới hạn bình thường theo tiêu chuẩn WHO 2021.
Mối tương quan giữa nồng độ LE với kết quả lâm sàng
Chỉ có 2NC trong tổng quan này đánh giá mối liên quan giữa nồng độ LE với kết quả mang thai và 1NC xem xét mối liên quan với tỷ lệ sẩy thai; tất cả đều không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê. Các tác giả cho rằng điều này có thể do quy trình lọc rửa TT giúp loại bỏ phần lớn bạch cầu và giảm tiếp xúc với các ROS, nên tác động tiêu cực của LE chỉ có khả năng biểu hiện khi nồng độ bạch cầu rất cao. Ngoài ra, chất lượng TT, đặc biệt là di động kém hoặc hình dạng bất thường, cũng ảnh hưởng đến kết quả thụ tinh. 1NC phát hiện nồng độ chất ức chế LE cao (>250 μg/mL) liên quan tới tỷ lệ phát triển phôi nang thấp hơn và tỷ lệ phôi ngừng phát triển cao hơn, dù quá trình hình thành phôi nang còn phụ thuộc vào số lượng, độ trưởng thành của noãn và tuổi của người nữ. Các dữ liệu hiện có cho thấy bạch cầu có thể làm giảm khả năng sinh sản, như tỷ lệ thụ tinh thấp hơn, và việc loại bỏ bạch cầu giúp cải thiện khả năng kết hợp TT–noãn. Tuy nhiên, một số NC lại gợi ý bạch cầu có thể hỗ trợ bằng cách loại bỏ TT bất thường và sản xuất hydrogen peroxide cần thiết cho quá trình hoạt hóa TT, cho thấy vai trò của LE vẫn còn nhiều tranh cãi và chịu ảnh hưởng bởi sự khác biệt trong thiết kế NC, kích thước mẫu, phương pháp đo và ngưỡng sử dụng.
Kết luận
Mặc dù phân tích tinh dịch theo tiêu chuẩn WHO vẫn là tiêu chuẩn vàng trong đánh giá khả năng sinh sản nam, phương pháp này không thể lý giải toàn bộ nguyên nhân vô sinh, từ đó đặt ra nhu cầu tìm kiếm thêm các chỉ dấu sinh học hỗ trợ, trong đó LE là một ứng viên tiềm năng. Kết quả tổng quan 28NC cho thấy LE là chỉ dấu ổn định phản ánh số lượng bạch cầu trong tinh dịch, nhưng mối liên hệ giữa nồng độ LE với các thông số TT và kết quả sinh sản nhìn chung yếu và thiếu nhất quán, đồng thời chưa chứng minh được giá trị tiên lượng lâm sàng. Sự khác biệt giữa các NC có thể xuất phát từ thiết kế, cỡ mẫu, kỹ thuật định lượng LE, ngưỡng cắt, cũng như sự hiện diện của các chất ức chế elastase và đặc điểm miễn dịch cá thể. Với bằng chứng hiện tại, LE chưa thể được coi là chỉ dấu chẩn đoán đáng tin cậy cho vô sinh nam, nhưng vẫn có thể cung cấp thông tin bổ sung về tình trạng viêm, đặc biệt ở các trường hợp viêm dưới lâm sàng. Trong tương lai, cần tiến hành các NC quy mô lớn, thiết kế chuẩn hóa, xác định rõ ngưỡng giá trị LE, đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu, cũng như làm sáng tỏ cơ chế tác động của bạch cầu và phản ứng viêm lên chất lượng TT, nhằm xác định rõ hơn giá trị lâm sàng tiềm năng của LE trong y học sinh sản nam.
Tài liệu tham khảo: Das M, Gumssani M, Mullaney J, Henkel R, Minhas S, Aquilina MC, Jayasena CN. Association of leukocyte elastase in semen and seminal plasma with sperm parameters and pregnancy outcomes in male fertility. Endocr Connect. 2025 Jan 27;14(2):e240571. doi: 10.1530/EC-24-0571. PMID: 39671340; PMCID: PMC11799752.










Khách sạn Equatorial, chủ nhật ngày 23 . 11 . 2025
Ngày 9 - 10 . 8 . 2025, Vinpearl Landmark 81 (Số 720A Điện BIên Phủ, ...
Vinpearl Landmark 81, chiều thứ bảy 9 . 8 . 2025 (13:00 - 16:30)

Sách “Bài giảng Thực hành Sản khoa” do các giảng viên Bộ ...

Sách ra mắt ngày 11 . 7 . 2025 và gửi đến quý hội viên trước ...

Kính mời quý đồng nghiệp quan tâm đến hỗ trợ sinh sản tham ...