Giới thiệu
Vô sinh nam là tình trạng không thể đạt được thai kỳ với người nữ có khả năng sinh sản sau ít nhất một năm quan hệ tình dục đều đặn và không sử dụng biện pháp tránh thai. Đây là một rối loạn phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như di truyền, môi trường, nhiễm trùng hoặc chưa rõ nguyên nhân, trong đó cơ chế bệnh sinh chưa hiểu rõ hoàn toàn. Nhiễm trùng đường sinh dục nam có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh tinh và chức năng tinh trùng (TT). Một chỉ dấu quan trọng phản ánh tình trạng này là tổng mật độ tế bào tròn (total round cell concentration - TRCC) trong tinh dịch, bao gồm bạch cầu và tế bào mầm chưa trưởng thành (immature germ cells - IGCs). Theo khuyến cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization - WHO), khi TRCC vượt quá 1 triệu tế bào/mL cần tiến hành đánh giá chuyên sâu vì đây có thể là dấu hiệu của viêm, stress oxy hóa hoặc bất thường sinh tinh.
Bạch cầu đóng vai trò quan trọng trong miễn dịch, nhưng nếu xuất hiện quá nhiều trong tinh dịch sẽ làm tăng sản sinh các gốc oxy hóa (reactive oxygen species - ROS), gây tổn thương màng TT, peroxy hóa lipid và phân mảnh DNA. Tương tự, sự hiện diện của IGCs phản ánh bất thường trong sinh tinh và có thể làm giảm chất lượng TT. TRCC tăng cao được ghi nhận liên quan đến giảm khả năng di động, tăng dị dạng TT, tăng phân mảnh DNA và tỷ lệ chết tế bào, góp phần làm giảm khả năng thụ tinh. Tuy nhiên, bằng chứng hiện tại vẫn chưa thống nhất về việc TRCC là nguyên nhân trực tiếp hay chỉ là dấu hiệu của rối loạn sinh tinh.
Tại khu vực cận Sahara ở châu Phi, đặc biệt là Ghana, nghiên cứu về vô sinh nam và TRCC còn rất hạn chế. Nguồn lực y tế hạn chế, thiếu các xét nghiệm chuyên biệt và công nghệ phân tích tinh dịch tiên tiến khiến việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn. Điều này tạo ra khoảng trống trong hiểu biết về vai trò của TRCC và mối liên hệ giữa TRCC với chất lượng tinh dịch cũng như chỉ số phân mảnh DNA TT (DNA fragmentation index - DFI). Do đó, việc khảo sát tỷ lệ hiện mắc TRCC và mối liên quan với DFI ở nam giới Ghana là cần thiết nhằm bổ sung bằng chứng khoa học, đồng thời cung cấp cơ sở cho các chiến lược quản lý vô sinh nam tại các quốc gia thiếu nguồn lực.
Phương pháp
Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 227 nam giới, với mẫu tinh dịch được phân tích theo hướng dẫn của WHO. Mật độ, độ di động và hình thái TT được đánh giá; TRCC được định lượng bằng buồng đếm Neubauer và kính hiển vi quang học. DFI được xác định bằng phương pháp phân tích cấu trúc nhiễm sắc thể TT (Sperm Chromatin Structure Assay). Các mô hình hồi quy logistic đa biến được sử dụng để đánh giá mối liên quan giữa TRCC và các thông số chất lượng tinh dịch.
Kết quả
Nghiên cứu gồm 227 đối tượng tham gia với độ tuổi trung vị là 40 tuổi, dao động trong khoảng từ 26 đến 64 tuổi. Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất là từ 26-35 tuổi (30,0%), tiếp theo là 36-40 tuổi (22,9%) và 41-45 tuổi (20,7%). Ngoài ra, 24,8% số người tham gia có nghề nghiệp được phân loại ở mức nguy cơ trung bình, trong khi 10,2% thuộc nhóm nghề nghiệp nguy cơ cao. Phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu đã kết hôn (97,4%).
Tỷ lệ TRCC tăng cao trong nhóm đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu ghi nhận rằng 19,4% số người tham gia có TRCC trong tinh dịch tăng cao, trong khi phần lớn (80,6%) không có tình trạng này.
Mối liên quan giữa tế bào tròn tăng cao và các thông số tinh dịch
TRCC có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với giảm nguy cơ thiểu tinh (p=0,030). Trong mô hình hồi quy đa biến đã hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu, TRCC vẫn là yếu tố dự báo độc lập đối với thiểu tinh (p=0,010). Tuy nhiên, TRCC không có mối liên quan đáng kể với tình trạng TT yếu–dị dạng (p=0,656) hoặc dị dạng (p=0,592). Ngoài ra, mối tương quan yếu và không có ý nghĩa thống kê giữa TRCC và chỉ số DFI (p=0,958). Khi đưa các yếu tố như tuổi, tỷ lệ eo/hông, mức tiêu thụ rượu và hút thuốc vào mô hình hồi quy để kiểm soát, mối tương quan giữa TRCC và DFI vẫn ở mức yếu và không có ý nghĩa thống kê (p=0,388). Trong mô hình hồi quy tuyến tính, việc tăng thêm một đơn vị TRCC (M/mL) không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức tăng 9,5% của DFI (p>0,05).
Kết luận
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới Ghana có TRCC tăng cao là 19,4%, trong đó TRCC có mối liên quan nghịch đáng kể với thiểu tinh, gợi ý vai trò tiềm năng của TRCC như một chỉ dấu phản ánh hoạt động sinh tinh. Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa giữa TRCC và DFI, cho thấy sự hiện diện của tế bào tròn trong tinh dịch không nhất thiết đồng nghĩa với tổn thương DNA TT. Những phát hiện này đặt ra yêu cầu cần có các phương pháp chẩn đoán tinh vi hơn, chẳng hạn như phân tích dòng chảy tế bào hoặc xét nghiệm peroxidase, để phân biệt bạch cầu và IGCs nhằm tăng độ chính xác trong đánh giá lâm sàng.
Trong bối cảnh các nghiên cứu về vô sinh nam tại châu Phi cận Sahara còn rất hạn chế, kết quả này đóng góp dữ liệu nền quan trọng, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của các nghiên cứu quy mô lớn và đa trung tâm nhằm xác định rõ hơn vai trò của TRCC trong vô sinh nam. Việc hiểu đúng mối liên quan giữa TRCC, chất lượng tinh dịch và tính toàn vẹn DNA TT có ý nghĩa thiết thực trong việc cải thiện chiến lược chẩn đoán, điều trị và quản lý vô sinh nam tại các quốc gia có nguồn lực hạn chế.
Tài liệu tham khảo: Anokye Kumi E, Owusu VB, Coffie PN, Addae EK, Djokoto RKM, Bedu-Addo K, Larbi JA. Total Round Cell Concentration in Semen and Its Association With Sperm DNA Fragmentation Index Among Ghanaian Males in Kumasi. Am J Mens Health. 2025 Jul-Aug;19(4):15579883251359420. doi: 10.1177/15579883251359420. Epub 2025 Jul 30. PMID: 40737363; PMCID: PMC12317161.












Khách sạn Equatorial, chủ nhật ngày 23 . 11 . 2025
Ngày 9 - 10 . 8 . 2025, Vinpearl Landmark 81 (Số 720A Điện BIên Phủ, ...
Vinpearl Landmark 81, chiều thứ bảy 9 . 8 . 2025 (13:00 - 16:30)

Sách “Bài giảng Thực hành Sản khoa” do các giảng viên Bộ ...

Sách ra mắt ngày 11 . 7 . 2025 và gửi đến quý hội viên trước ...

Kính mời quý đồng nghiệp quan tâm đến hỗ trợ sinh sản tham ...