Tin chuyên ngành
on Monday 31-12-2018 8:37am
Danh mục: Sản khoa & nhi sơ sinh
Sinh non hiện nay vẫn thuộc nhóm những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong chu sinh, đáng ngại là tỷ lệ sinh non hiện nay lại có khuynh hướng gia tăng ở cả những nước phát triển. Thai kỳ song thai là một trong những yếu tố nguy cơ của sinh non, làm tăng nguy cơ sinh non lên hơn gấp 12 lần so với thai kỳ đơn thai (OR: 12.8; 95% CI, 12,6 – 12,9). Tỷ lệ sinh non ở nhóm song thai chiếm khoảng 56,6% so với chỉ 9,7% ở đơn thai.
Những nghiên cứu về sinh non hiện nay được quan tâm nhiều nhất là các phương pháp giúp ước đoán nguy cơ và dự phòng sinh non. Đối với thai kỳ song thai, siêu âm đo chiều dài kênh cổ tử cung và fetal fibronectin (fFN) được xem là những phương pháp hiệu quả trong dự đoán nguy cơ. Chiều dài kênh cổ tử cung ngắn đã được công nhận là yếu tố tăng nguy cơ sinh non, tuy nhiên hiện nay rất ít khảo sát so sánh trực tiếp hiệu quả của chiều dài kênh cổ tử cung và fFN trong dự đoán nguy cơ sinh sớm.
Một thử nghiệm đoàn hệ tiến cứu mù đôi trên cỡ mẫu nhỏ tiến hành tại Pháp từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016 đã cung cấp thêm nhiều dữ liệu về giá trị của fFN trong dự đoán nguy cơ sinh non. Nghiên cứu thực hiện trên những thai phụ mang song thai (kể cả monochorionic và dichorionic) ở tuổi thai từ 24 tuần đến 33 tuần 6 ngày có dấu hiệu sinh non (bao gồm có ít nhất 3 cơn gò trong 10 phút, kéo dài tối thiểu 30 giây, có thay đổi ở cổ tử cung hay kênh cổ tử cung ngắn trên siêu âm) và màng ối nguyên vẹn. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm xác định xem nếu chỉ thực hiện xét nghiệm fFN có hiệu quả hơn so với kết hợp fFN và đo chiều dài kênh cổ tử cung hay không. Kết quả đánh giá dựa vào tỷ lệ sinh trong vòng 7 ngày và 14 ngày ở tuổi thai < 34 tuần và < 37 tuần.
Kết quả đánh giá trên 40 trường hợp thoả tiêu chuẩn nhận, fFN dương tính khoảng 7,5% (3/40). Chiều dài kênh cổ tử cung dù bất kể giá trị nào cũng không giúp tăng hiệu quả dự đoán. Theo đó, fFN có độ nhạy (66,7%), độ đặc hiệu (97,2%), giá trị tiên đoán dương (66,7%), giá trị tiên đoán âm (97,2%), tỷ lệ khả năng dương (LR) (24,0) và LR âm (0,3) sinh non tự phát trong vòng 7 ngày (p = 0,01). Theo kết quả khảo sát, có 66,1% bệnh nhân có xét nghiệm fFN dương tính sẽ sinh trong vòng 7 ngày so với 2,4% nếu xét nghiệm âm tính; bắt đầu với xác suất trước thử nghiệm là 7,5%. Kết hợp đo chiều dài kênh cổ tử cung và fFN không làm tăng đáng kể LR dương hoặc giảm LR âm.
Nhóm nghiên cứu kết luận xét nghiệm fFN độc lập có thể dự đoán hiệu quả sinh non trong vòng 7 ngày trong số các trường hợp song thai có triệu chứng sinh non. Kết hợp cả hai phương pháp này không làm tăng đáng kể hiệu quả dự đoán so với khi thực hiện riêng lẻ. Các tác giả cũng thừa nhận nghiên cứu này còn nhiều điểm hạn chế, như cỡ mẫu nhỏ nên cần tiến hành nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn ở nhiều trung tâm. Hạn chế thứ hai là chưa so sánh được giá trị của định lượng và định tính fFN. Có thể khi kết hợp định lượng fFN và chiều dài kênh cổ tử cung sẽ tăng hiệu quả dự đoán cao hơn.
BS. Lê Tiểu My – Nhóm nghiên cứu sinh non bệnh viện Mỹ Đức
Những nghiên cứu về sinh non hiện nay được quan tâm nhiều nhất là các phương pháp giúp ước đoán nguy cơ và dự phòng sinh non. Đối với thai kỳ song thai, siêu âm đo chiều dài kênh cổ tử cung và fetal fibronectin (fFN) được xem là những phương pháp hiệu quả trong dự đoán nguy cơ. Chiều dài kênh cổ tử cung ngắn đã được công nhận là yếu tố tăng nguy cơ sinh non, tuy nhiên hiện nay rất ít khảo sát so sánh trực tiếp hiệu quả của chiều dài kênh cổ tử cung và fFN trong dự đoán nguy cơ sinh sớm.
Một thử nghiệm đoàn hệ tiến cứu mù đôi trên cỡ mẫu nhỏ tiến hành tại Pháp từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016 đã cung cấp thêm nhiều dữ liệu về giá trị của fFN trong dự đoán nguy cơ sinh non. Nghiên cứu thực hiện trên những thai phụ mang song thai (kể cả monochorionic và dichorionic) ở tuổi thai từ 24 tuần đến 33 tuần 6 ngày có dấu hiệu sinh non (bao gồm có ít nhất 3 cơn gò trong 10 phút, kéo dài tối thiểu 30 giây, có thay đổi ở cổ tử cung hay kênh cổ tử cung ngắn trên siêu âm) và màng ối nguyên vẹn. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm xác định xem nếu chỉ thực hiện xét nghiệm fFN có hiệu quả hơn so với kết hợp fFN và đo chiều dài kênh cổ tử cung hay không. Kết quả đánh giá dựa vào tỷ lệ sinh trong vòng 7 ngày và 14 ngày ở tuổi thai < 34 tuần và < 37 tuần.
Kết quả đánh giá trên 40 trường hợp thoả tiêu chuẩn nhận, fFN dương tính khoảng 7,5% (3/40). Chiều dài kênh cổ tử cung dù bất kể giá trị nào cũng không giúp tăng hiệu quả dự đoán. Theo đó, fFN có độ nhạy (66,7%), độ đặc hiệu (97,2%), giá trị tiên đoán dương (66,7%), giá trị tiên đoán âm (97,2%), tỷ lệ khả năng dương (LR) (24,0) và LR âm (0,3) sinh non tự phát trong vòng 7 ngày (p = 0,01). Theo kết quả khảo sát, có 66,1% bệnh nhân có xét nghiệm fFN dương tính sẽ sinh trong vòng 7 ngày so với 2,4% nếu xét nghiệm âm tính; bắt đầu với xác suất trước thử nghiệm là 7,5%. Kết hợp đo chiều dài kênh cổ tử cung và fFN không làm tăng đáng kể LR dương hoặc giảm LR âm.
Nhóm nghiên cứu kết luận xét nghiệm fFN độc lập có thể dự đoán hiệu quả sinh non trong vòng 7 ngày trong số các trường hợp song thai có triệu chứng sinh non. Kết hợp cả hai phương pháp này không làm tăng đáng kể hiệu quả dự đoán so với khi thực hiện riêng lẻ. Các tác giả cũng thừa nhận nghiên cứu này còn nhiều điểm hạn chế, như cỡ mẫu nhỏ nên cần tiến hành nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn ở nhiều trung tâm. Hạn chế thứ hai là chưa so sánh được giá trị của định lượng và định tính fFN. Có thể khi kết hợp định lượng fFN và chiều dài kênh cổ tử cung sẽ tăng hiệu quả dự đoán cao hơn.
BS. Lê Tiểu My – Nhóm nghiên cứu sinh non bệnh viện Mỹ Đức
Lượt dịch từ Accuracy of fetal fibronectin for the prediction of preterm birth in symptomatic twin pregnancies: a pilot study – Scientific reports Feb 2018 và fFN alone may predict spontaneous delivery in symptomatic twin pregnancies – Contemporary Ob/Gyn May 2018
Các tin khác cùng chuyên mục:
Khuyến cáo về tiêm ngừa ở phụ nữ hiếm muộn: Đồng thuận của ASRM - Ngày đăng: 31-12-2018
Chẩn đoán và xử trí giãn não thất thai nhi mức độ nhẹ khuyến cáo của SOCIETY FOR MATERNAL FETAL MEDICINE (SMFM) – 2018 - Ngày đăng: 26-12-2018
Vai trò của Probiotics, Prebiotics và Synbiotics ở trẻ sơ sinh non tháng - Ngày đăng: 17-12-2018
Sinh Non Và Những Thai Kỳ Có Nhiễm Khuẩn Âm Đạo - Ngày đăng: 17-10-2018
Nội soi bào thai điều trị HC truyền máu song thai - Ngày đăng: 08-10-2018
Biến chứng của song thai - Ngày đăng: 08-10-2018
Cập nhật xử trí rách tầng sinh môn độ 3 và độ 4 trong sản khoa - Ngày đăng: 08-10-2018
Điều trị hội chứng buồng trứng đa nang và dự phòng đái tháo đường thai kỳ - Ngày đăng: 04-10-2018
Cập nhật thuyên tắc phổi và thuyên tắc ối - Ngày đăng: 04-10-2018
Cập nhật vai trò của Progesterone trong y học bào thai - Ngày đăng: 03-10-2018
Mối tương quan giữa tình trạng nhau thai và phát triển thần kinh ở trẻ sinh non - Ngày đăng: 28-08-2018
Kiểm soát cơn ngưng thở ở trẻ sinh non - Ngày đăng: 23-07-2018
TIN CẬP NHẬT
TIN CHUYÊN NGÀNH
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020
Thứ bảy ngày 22 . 02 . 2025
Năm 2020
Windsor Plaza Hotel, Chủ Nhật ngày 15 . 12 . 2024
Năm 2020
Windsor Plaza Hotel, Thứ Bảy 14.12 . 2024
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI
Sách ra mắt ngày 10 . 10 . 2024
Y học sinh sản 59 - Bệnh truyền nhiễm và thai kỳ
Y học sinh sản 58 - Thai kỳ và các bệnh lý nội tiết, chuyển ...
FACEBOOK