Chính vì thế, nhóm tác giả thực hiện nghiên cứu hồi cứu nhằm xác định mối tương quan giữa kích thước tiền nhân và tiềm năng hợp tử 1PN phát triển thành phôi nang sau IVF/ ICSI. Nghiên cứu tiến hành nuôi 961 phôi (sau khi IVF hoặc ICSI) trong hệ thống time-laspe và xác định đường kính 1PN của 112 bệnh nhân.
Kết quả:
- Tỉ lệ phôi ngày 3 loại tốt, tỉ lệ tạo thành phôi nang, tỉ lệ phôi nang loại tốt có sự khác biệt giữa nhóm hợp tử 2PN và nhóm 1PN (38,5 vs 18,5; 68,3 vs 32,2; 38,5 vs 11,6; p<0,01)
- Tỉ lệ tạo thành phôi nang của hợp tử 1PN có đường kính lớn ≥ 31 μm cao hơn đáng kể so với nhóm hợp tử 1PN có đường kính nhỏ hơn (≤ 24, 25–27, 28–30 μm) (60% vs 16-26,5%; p< 0,05) và tương tự như hợp tử 2PN (68,3%)
- Tỉ lệ phôi nang loại tốt của hợp tử 1PN có mối tương quan thuận với đường kính PN (≤ 24 μm: 0%; 25–27 μm: 2%; 28–30 μm: 10,8% và ≥ 31 μm: 34,3%)
- Không có sự khác biệt về đường kính tiền nhân giữa nhóm IVF và ICSI.
Trần Hà Lan Thanh – Chuyên viên phôi học IVFMD Phú Nhuận
Nguồn: Correlation between the pronucleus size and the potential for human single pronucleus zygotes to develop into blastocysts, Journal of Assisted Reproduction and Genetics https://doi.org/10.1007/s10815-018-1137-1