Nghiên cứu được chia làm 4 nhóm theo tỷ lệ noãn trưởng thành thu nhận: tối ưu (76 -100%), trung bình (51 - 75%), một phần (26 - 50%) và tối thiểu (1 - 25%). Đặc điểm bệnh nhân và phác đồ điều trị không có sự khác biệt giữa các nhóm. Kết quả của nghiên cứu cho thấy việc giảm số lượng noãn MII thu nhận làm giảm tỷ lệ thụ tinh, tăng tỷ lệ thụ tinh bất thường từ 2% ở nhóm tối ưu đến 4% ở nhóm tối thiểu. Khi giảm số noãn trưởng thành thu nhận được, tỷ lệ làm tổ giảm dần từ 33% đến 17% (p < 0,0001), tỷ lệ thai lâm sàng từ 63,6% đến 37,5% (p < 0,0001), tỷ lệ trẻ sinh sống giảm 49,2% đến 26,6% (p < 0,0001). Ngoài ra, tỷ lệ sẩy thai tăng cao ở nhóm noãn MII thu được tối thiểu so với nhóm tối ưu (29,1% và 22,6%, p = 0,001).
Như vậy, tỷ lệ cao noãn MI và GV trong đoàn hệ noãn thu nhận được ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh và sự phát triển của phôi. Như vậy ngoài việc trưởng thành nhân, tỷ lệ noãn MII thu nhận tối ưu cũng thể hiện sự trưởng thành tế bào chất ở noãn và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng noãn. Dựa trên nghiên cứu này, cần tối ưu phác đồ kích thích buồng trứng và việc nuôi cấy noãn giúp nâng cao số noãn trưởng thành trong thụ tinh ống nghiệm.
Nguồn: The proportion of nuclear mature oocytes effects ooplasmic competence of metaphase-ii in relation to implation and live birth with ICSI, Reproductive BioMedicine Online (2019), doi: https://doi.org/10.1016/j.rbmo.2019.06.005
