CVPH. Trần Hà Lan Thanh_IVFMD Phú Nhuận

Tinh trùng dị dạng (teratozoospermia) được mô tả là một trong những nguyên nhân thiết yếu gây vô sinh nam. Có 2 định nghĩa về tinh trùng dị dạng theo Chemes (2000), thứ nhất là mẫu có hỗn hợp các loại bất thường hình dạng; thứ 2 là mẫu có kiểu hình dị dạng đặc biệt như tinh trùng đầu tròn và không có acrosome (globozoospermia), tinh trùng đầu to (macrozoospermia), các bất thường về đuôi (MMAF – multiple morphological abnormalities of the sperm flagellum).


 
Đã có nhiều báo cáo cho rằng dị dạng trong mẫu kiểu hình dị dạng đặc biệt ảnh hưởng đến nhân tinh trùng. Tuy nhiên, vẫn chưa xác định rõ mối tương quan ở các mẫu dị dạng hỗn hợp. Đó cũng chính là lý do nghiên cứu của một nghiên cứu đăng trên tạp chí Andrologia vào đầu năm đây. Nghiên cứu phân tích tính lệch bội (bằng FISH), nguyên vẹn DNA (bằng TUNEL), mức độ đóng gói nhiễm sắc thể (bằng cách nhuộm aniline blue) của tinh trùng thu nhập từ 45 nam giới vô sinh với tinh trùng dị dạng hỗn hợp (nhóm thử nghiệm) so với nhóm chứng 25 nam giới bình thường đã có con. Trong đó có 14 nam giới vô sinh với tinh trùng dị dạng hỗn hợp đánh giá mối tương quan của chất lượng nhân với kết cục ICSI.

Kết quả cho thấy:
  • Chỉ số phân mảnh DNA (DFI) cao hơn đáng kể so với đối chứng (26,2 ± 10,8% vs. 10,2 ± 3,8%; p < 0,001); có tương quan thuận ở mức độ thấp với ít hoặc không có acrosome (r = 0,3; p = 0,04) và có tương quan thuận ở mức trung bình với đầu nhỏ (r = 0,5; p = 0,027)
  • Tỉ lệ tinh trùng phản ứng với aniline blue (nhiễm sắc thể không đóng xoắn) ở nhóm thử nghiệm cao hơn nhóm đối chứng (55,4 ± 13,8% vs. 12,7 ± 6%; p < 0,05); có tương quan nghịch ở mức chấp nhận được với độ di động tinh trùng (r = -0,6; p = 0,014)
  • Tỉ lệ lệch bội ở nhóm thử nghiệm cũng cao hơn (8 ± 3,2% vs. 1,5 ± 0,2%; p = 0,001). Có mối tương quan thuận ở mức chấp nhận được giữa tỉ lệ disomy nhiễm sắc thể Y với ít hoặc không có acrosome (r = 0,5; p = 0,048).
  • Đồng thời, có mối tương quan giữa chất lượng nhân tinh trùng với kết cục ICSI (22 chu kỳ ICSI). Có mối tương quan nghịch ở mức chấp nhận được giữa bất thường acrosome với tỉ lệ thai trên số phôi chuyển (r = -0,7; p = 0,019). Tỉ lệ tinh trùng có nhiễm sắc thể không đóng xoắn cũng tương quan nhiều với tỉ lệ thai trên số phôi chuyển (r = -0,7; p = 0,017). Bên cạnh đó, cũng có mối tưong quan nghịch giữa disomy nhiễm sắc thể giới tính với sự phát triển phôi (r = -0,6; p = 0,05).
Như vậy, phân tích tính lệch bội, nguyên vẹn DNA, mức độ đóng gói nhiễm sắc thể của tinh trùng trong trường hợp tinh trùng dị dạng là rất có lợi trước khi thực hiện hỗ trợ sinh sản.

 
Nguồn: Nuclear sperm quality in total polymorphic teratozoospermia and its impact on intracytoplasmic sperm injection outcome, 2019, Andrologia, doi: 10.1111/and.13252