Từ trước đến nay, đã có nhiều nghiên cứu cho rằng tuổi mẹ càng lớn thì khả năng mang thai và sinh con càng giảm do số lượng và chất lượng noãn giảm, đồng thời tăng nguy cơ vô sinh, sẩy thai và trẻdị tật bẩm sinh. Trong điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, tuổi của người mẹ là yếu tố dự đoán chính xác nhất về kết quả mang thai và sản khoa. Tuổi mẹ cao (AMA) có tác động xấu đến quá trình thu nhận noãn, quá trình thụ tinh và trên hết là sự phát triển của phôi. Các nghiên cứu báo cáo về hình thái phôi và sự thay đổi hình thái phôi ở phụ nữ AMA vẫn còn hạn chế. Một số tác giả đã báo cáo sự tăng các phân chia bất thường và sự chậm phát triển phôi từ phụ nữ AMA. Tuy nhiên, bằng chứng về tác động của AMA đối với sự phát triển của phôi còn gây tranh cãi. Hơn nữa, mối tương quan giữa AMA và động học hình thái trong quá trình thụ tinh và nén của phôi không được đánh giá trong các nghiên cứu trước đây, mặc dù các giai đoạn này phản ánh đáng kể khả năng phát triển phôi và kết quả mang thai. Do đó, nghiên cứu này nhằm chỉ ra ảnh hưởng của tuổi người mẹ đối với các sự kiện phân chia tế bào, phân tích động học hình thái trong quá trình thụ tinh ở người và phát triển phôi, đặc biệt là trong quá trình nén chặt phôi. Ngoài ra, cũng đánh giá ảnh hưởng của AMA đối với sự xuất hiện và phân bố của các dấu chỉ phân cực tế bào: protein liên quan đến Yes (Yes-associated protein-YAP) và protein kinase C-
Tổng cộng có 2058 noãn được phân tích hồi cứu, chia theo tuổi của người mẹ (phân loại theo Hiệp hội Công nghệ Hỗ trợ Sinh sản): <35 tuổi, 35–37 tuổi, 38–40 tuổi, 41–42 tuổi và >42 tuổi. Ảnh hưởng của AMA được đánh giá liên quan đến: hình thái phôi và sự thay đổi hình thái; và sự hiện diện và phân bố của các marker phân cực tế bào—protein YAP và protein kinase C-
Kết quả cho thấy, AMA ảnh hưởng đáng kể đến kích thước tiền nhân, động học tiền nhân trong quá trình thụ tinh, tốc độ hình thành và nở rộng phôi nang. Kích thước tiền nhân cái giảm và sự biến mất tiền nhân không đồng bộ tăng lên ở nhóm >42 tuổi (P = 0,0027 và P <0,0122). Quan sát bằng kính hiển vi cho thấy sự hình thành và nở rộng phôi nang giảm ở nhóm 41–42 tuổi và >42 tuổi (P <0,0001). Hình thái của khối tế bào bên trong (ICM) và tế bào lá nuôi (TE) ở nhóm >42 tuổi kém hơn so với nhóm <35 tuổi. Quá trình nén phôi bị chậm ở nhóm >42 tuổi (P = 0,0002). Quá trình giãn nở và mở rộng phôi nang cũng bị chậm ở nhóm 41–42 tuổi và >42 tuổi (P <0,0001). Tỷ lệ dương tính với các protein YAP trong các tế bào của phôi dâu và quá trình phát huỳnh quang miễn dịch PKC-
Tóm lại, tuổi mẹ cao có ảnh hưởng đáng kể đến kích thước của tiền nhân, động học ở bên trong và bên ngoài tiền nhân trong quá trình thụ tinh, các rối loạn phân chia tế bào trong giai đoạn nén và giảm sự nở rộng khoang phôi.
Nguồn: Ezoe, Kenji, et al. "Maternal age affects pronuclear and chromatin dynamics, morula compaction and cell polarity, and blastulation of human embryos." Human Reproduction (2023).CNSH Võ Minh Tuấn– IVFMD Tân Bình
Từ trước đến nay, đã có nhiều nghiên cứu cho rằng tuổi mẹ càng lớn thì khả năng mang thai và sinh con càng giảm do số lượng và chất lượng noãn giảm, đồng thời tăng nguy cơ vô sinh, sẩy thai và trẻdị tật bẩm sinh. Trong điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, tuổi của người mẹ là yếu tố dự đoán chính xác nhất về kết quả mang thai và sản khoa. Tuổi mẹ cao (AMA) có tác động xấu đến quá trình thu nhận noãn, quá trình thụ tinh và trên hết là sự phát triển của phôi. Các nghiên cứu báo cáo về hình thái phôi và sự thay đổi hình thái phôi ở phụ nữ AMA vẫn còn hạn chế. Một số tác giả đã báo cáo sự tăng các phân chia bất thường và sự chậm phát triển phôi từ phụ nữ AMA. Tuy nhiên, bằng chứng về tác động của AMA đối với sự phát triển của phôi còn gây tranh cãi. Hơn nữa, mối tương quan giữa AMA và động học hình thái trong quá trình thụ tinh và nén của phôi không được đánh giá trong các nghiên cứu trước đây, mặc dù các giai đoạn này phản ánh đáng kể khả năng phát triển phôi và kết quả mang thai. Do đó, nghiên cứu này nhằm chỉ ra ảnh hưởng của tuổi người mẹ đối với các sự kiện phân chia tế bào, phân tích động học hình thái trong quá trình thụ tinh ở người và phát triển phôi, đặc biệt là trong quá trình nén chặt phôi. Ngoài ra, cũng đánh giá ảnh hưởng của AMA đối với sự xuất hiện và phân bố của các dấu chỉ phân cực tế bào: protein liên quan đến Yes (Yes-associated protein-YAP) và protein kinase C-
Tổng cộng có 2058 noãn được phân tích hồi cứu, chia theo tuổi của người mẹ (phân loại theo Hiệp hội Công nghệ Hỗ trợ Sinh sản): <35 tuổi, 35–37 tuổi, 38–40 tuổi, 41–42 tuổi và >42 tuổi. Ảnh hưởng của AMA được đánh giá liên quan đến: hình thái phôi và sự thay đổi hình thái; và sự hiện diện và phân bố của các marker phân cực tế bào—protein YAP và protein kinase C-
Kết quả cho thấy, AMA ảnh hưởng đáng kể đến kích thước tiền nhân, động học tiền nhân trong quá trình thụ tinh, tốc độ hình thành và nở rộng phôi nang. Kích thước tiền nhân cái giảm và sự biến mất tiền nhân không đồng bộ tăng lên ở nhóm >42 tuổi (P = 0,0027 và P <0,0122). Quan sát bằng kính hiển vi cho thấy sự hình thành và nở rộng phôi nang giảm ở nhóm 41–42 tuổi và >42 tuổi (P <0,0001). Hình thái của khối tế bào bên trong (ICM) và tế bào lá nuôi (TE) ở nhóm >42 tuổi kém hơn so với nhóm <35 tuổi. Quá trình nén phôi bị chậm ở nhóm >42 tuổi (P = 0,0002). Quá trình giãn nở và mở rộng phôi nang cũng bị chậm ở nhóm 41–42 tuổi và >42 tuổi (P <0,0001). Tỷ lệ dương tính với các protein YAP trong các tế bào của phôi dâu và quá trình phát huỳnh quang miễn dịch PKC-
Tóm lại, tuổi mẹ cao có ảnh hưởng đáng kể đến kích thước của tiền nhân, động học ở bên trong và bên ngoài tiền nhân trong quá trình thụ tinh, các rối loạn phân chia tế bào trong giai đoạn nén và giảm sự nở rộng khoang phôi.
Nguồn: Ezoe, Kenji, et al. "Maternal age affects pronuclear and chromatin dynamics, morula compaction and cell polarity, and blastulation of human embryos." Human Reproduction (2023).