Ths. Nguyễn Thị Thanh Tâm
Đơn vị HTSS IVFMD FAMILY, BVĐK Gia Đình, Đà Nẵng
-
Giới thiệu:
Đa thai được xem là một trong những biến chứng nghiêm trọng trong kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Hiện nay, lựa chọn và chuyển đơn phôi là phương pháp hiệu quả để giảm tỷ lệ đa thai, tuy nhiên phương pháp này không ngăn ngừa việc thụ thai tự nhiên xảy ra đồng thời và phân chia phôi, do đó, nguy cơ đa thai vẫn còn [1]. Với thuật ngữ sinh đôi là chỉ các phôi thai phát sinh từ cùng một trứng thụ tinh hoặc từ hai trứng khác nhau được thụ tinh với hai tinh trùng khác nhau. Chính vì thế, sinh đôi có hai loại: sinh đôi cùng trứng (Monozygotic Twins - MZT) và sinh đôi khác trứng. Hiện nay, tỷ lệ sinh đôi cùng trứng một cách tự nhiên là khoảng 0,4%, nhưng tỷ lệ MZT cao hơn được báo cáo trong các trường hợp thụ tinh nhân tạo (Assisted Reproductive Technology - ART) so với các trường hợp mang thai tự nhiên, dao động từ 0,72% đến 5% [2].
Do đó, các nghiên cứu về MZT trong ART cung cấp những giá trị quý giá để khám phá các cơ chế chưa được biết đến.
-
Cơ chế hình thành sinh đôi cùng trứng
Sinh đôi cùng trứng được phân loại dựa trên số lượng màng ối và màng đệm, đó là các màng bao quanh và bảo vệ thai nhi trong suốt thai kỳ. Ở người, màng đệm phát triển từ lớp tế bào lá nuôi (Trophectoderm – TE). Sinh đôi cùng trứng hai màng đệm được cho là do sự phân chia của các phôi bào tách nhau trước giai đoạn phôi dâu. Điều này dẫn đến sự phát triển của hai phôi nang riêng biệt, tạo ra cặp song sinh cùng trứng, mỗi phôi nang có màng đệm riêng. Tuy nhiên, các trường hợp thụ tinh nhân tạo gần đây báo cáo rằng việc chuyển một phôi nang duy nhất có thể dẫn đến sinh đôi cùng trứng có hai màng đệm, cho thấy có sự phân chia muộn sau giai đoạn phôi nang[3].
-
-
Đơn màng đệm
-
Có thể do thiếu protein E-cadherin, chịu trách nhiệm giúp kết dính các tế bào với nhau. Trong hỗ trợ sinh sản, tỷ lệ sinh đôi cùng trứng tăng từ 0,38% lên 1,38% khi chuyển phôi nang có chất lượng ICM kém[4].
Trong quá trình hình thành khoang phôi nang trước khi chuyển phôi trong ART, quá trình giãn nở khoang phôi dẫn đến sự phân tách khối tế bào nội mô (The inner cell mass - ICM). Điều này được xác minh trong mô hình in vitro ở người đối với sinh đôi đơn màng ối rằng sự phân tách ICM có thể xảy ra trong quá trình tạo khoang[5]. Nhìn chung, nếu các tế bào nội mô của phôi tiền làm tổ đang trải qua quá trình hình thành khoang phôi nang, kết nối lỏng lẻo, có thể bị tách thông qua quá trình tạo khoang và tích tụ dịch. Điều này như một lực vật lý chia ICM thành hai hoặc ba nhóm riêng biệt trong một phôi, cuối cùng dẫn đến sự hình thành đa thai cùng trứng có chung màng đệm.
Trong ART, kỹ thuật hỗ trợ thoát màng được sử dụng rộng rãi nhằm giúp phôi thoát khỏi màng trong suốt. Tuy nhiên kỹ thuật hỗ trợ thoát màng được cho rằng liên quan đến màng trong suốt (Zona pellucida - ZP) do phôi thoát ra thông qua một lỗ nhỏ ở ZP và mắc kẹt tạo hình số 8, làm tăng tỷ lệ MZT trong ART vẫn được tranh luận[6].
Trong giai đoạn cuối của phôi nang ở người, ICM trải qua quá trình biệt hóa thành hai loại tế bào riêng biệt: lớp hạ bì tạo túi noãn hoàng, lớp thượng bì phát triển tạo thành em bé và màng ối - một màng bao quanh trực tiếp thai nhi. Trường hợp lớp thượng bì của ICM không tách hoàn toàn thành hai phần mà vẫn còn kết nối một phần, màng ối của cặp song sinh cùng một màng đệm có thể hợp nhất, dẫn đến song sinh đơn màng đệm, đơn màng ối[7].
-
-
Hai màng đệm
-
Các trường hợp mang thai tự nhiên, song thai hai màng đệm thường được cho là song thai khác hợp tử, bắt nguồn từ hai trứng được thụ tinh. Tính đồng hợp tử của chúng có thể được xác nhận thông quá xét nghiệm di truyền: phân tích dấu vân tay deoxyribonucleic acid (DNA)[8], phân tích trình tự lặp lại ngắn[9]. Tuy nhiên, các trường hợp ART cho thấy sự phân chia của cặp song sinh cùng trứng khác màng đệm có thể xảy ra ở giai đoạn phôi nang hoặc muôn hơn[9].
Trong ART, có một số trường hợp báo cáo về hiện tượng nở lại khoang phôi bất thường dẫn đến mang thai đôi cùng trứng sau khi chuyển đơn phôi. Trong một số trường hợp giãn nở phôi hình số 8 bất thường, thông qua lỗ nhỏ trên ZP, chỉ một nữa số lượng tế bào ICM thoát ra khỏi ZP, trong khi nửa còn lại vẫn nằm bên trong. Khi cả ICM và TE đều phân chia thành hai nửa do áp lực từ khe hở nhỏ được tạo ra bằng laser, có thể dẫn đến sự hình thành hai phôi nang riêng biệt, tạo ra cặp song sinh cùng trứng, mỗi thai nhi có màng đệm riêng biệt[10]
Đến hiện tại, chỉ có một trường hợp được báo cáo trong đó phôi từ chu kỳ đông lạnh và rã đông được quan sát thấy tách thành hai phôi nang, kết quả tạo nên cặp song sinh cùng trứng. Trong quá trình giãn nở của khoang phôi nang sau đông lạnh và rã đông, một số tế bào có thể vẫn còn nguyên vẹn, đồng thời tách ICM và TE thành hai phôi nang nhỏ, riêng biệt được hình thành bên trong ZP. Mặc dù là trường hợp duy nhất được báo cáo nhưng cũng có những trường hợp mang thai đôi cùng trứng chưa được giải thích sau khi chuyển một phôi đông lạnh và rã đông duy nhất[9]
-
Kết quả mang thai và trẻ sinh sống của MZ trong ART
Phụ nữ mang song thai cùng trứng có nguy cơ gặp các biến chứng cho mẹ và thai nhi cao hơn so với những người mang đơn thai hoặc song thai khác trứng[11]. Trong thai kỳ, MZT có tỷ lệ sẩy thai, sinh non, cân nặng trẻ sinh ra thấp, loạn sản, chậm phát triển, bệnh tật và tử vong trong thời điểm sinh cao ở phụ nữ mang thai. Một nghiên cứu báo cáo rằng 95% trường hợp MZT sau điều trị ART là thai kỳ đơn màng đệm[12]. Do nhau thai đơn màng đệm, phụ nữ phải đối mặt với các biến chứng như hội chứng truyền máu song thai, hội chứng tưới máu động mạch ngược song thai, hội chứng thiếu máu-đa hồng cầu song thai, thai lưu trong tử cung và chậm phát triển trong tử cung[1]. Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu bao gồm 19.081 chu kỳ chuyển đơn phôi từ tiêm tinh trùng vào bào tương noãn, xét nghiệm di truyền tiền làm tổ (PGT) và chọc hút tinh trùng từ tinh hoàn từ 2010 đến 2020 tại một trung tâm duy nhất. Tổng cộng có 187 cặp song sinh cùng trứng được đưa vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy tỷ lệ thai đôi cùng trứng là ART trong các chu kỳ chuyển đơn phôi là 0,98%. Tỷ lệ trẻ sinh sống của MZT trong nhóm tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Intracytoplasmic Sperm Injection – ICSI) là 88,5%. Nhóm thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (In vitro fertilization – IVF) dẫn đến nguy cơ sẩy thai là 39,4%, sẩy thai sớm 29,5%, tăng đáng kể MZT so với ICSI (11,4%, 8,5%). Tỷ lệ sinh đôi cùng trứng (MZT) tương tự nhau giữa các nhóm điều trị hỗ trợ sinh sản (ART). Tỷ lệ sẩy thai và sây thai sớm ở thai đôi cùng trứng tăng lên ở nhóm bệnh nhân thực hiện IVF. Không có mối tương quan giữa nguyên nhân vô sinh và tiền sử.
-
Kết luận
|
|
|
|
|
|
Sinh đôi cùng trứng có tỷ lệ cao hơn trong các chu kỳ hỗ trợ sinh sản so với thụ thai tự nhiên, dù cơ chế hình thành vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Một số yếu tố trong ART như quá trình hình thành khoang phôi nang, sự phân tách khối tế bào nội mô (ICM) và các can thiệp lên màng trong suốt có thể liên quan đến hiện tượng này. Vì vậy, việc hiểu rõ các cơ chế và yếu tố nguy cơ của MZT có ý nghĩa quan trọng trong hỗ trợ sinh sản.
Tài liệu tham khảo:
[1] Li Y., Chang Q., và Mai Q., “Pregnancy and neonatal outcomes of monozygotic twins resulting from assisted reproductive technology: a 10-year retrospective study”, Reproductive Biology and Endocrinology : RB&E, vol 21, tr 51, tháng 6 2023, doi: 10.1186/s12958-023-01104-7.
[2] Jin H., Han Y., và Zenker J., “Cellular mechanisms of monozygotic twinning: clues from assisted reproduction”, Truy cập: 11 Tháng Ba 2026. [Online]. Available at: https://dx.doi.org/10.1093/humupd/dmae022
[3] J. Klein, L. Grunfeld, M. Duke, T. Mukherjee, B. Sandler, và A. B. Copperman, “Challenging Traditional Dogma: A Report of Two Cases of Late Monozygotic Splitting Resulting in Dichorionic Twinning”, Fertility and Sterility, vol 84, tr S238–S239, tháng 9 2005, doi: 10.1016/j.fertnstert.2005.07.616.
[4] T. Eliasen, A. Gabrielsen, B. Bay, L. Iversen, và U. Knudsen, “Monochorionic twins after single blastocyst transfer: retrospective cohort and blinded time lapse annotation analysis”, Reprod Biomed Online, vol 43, số p.h 1, tr 62–65, tháng 7 2021, doi: 10.1016/j.rbmo.2021.04.001.
[5] D. G. Luijkx, A. Ak, G. Guo, C. A. van Blitterswijk, S. Giselbrecht, và E. J. Vrij, “Monochorionic Twinning in Bioengineered Human Embryo Models”, Adv Mater, vol 36, số p.h 25, tr e2313306, tháng 6 2024, doi: 10.1002/adma.202313306.
[6] M. Alikani, N. A. Cekleniak, E. Walters, và J. Cohen, “Monozygotic twinning following assisted conception: an analysis of 81 consecutive cases”, Hum Reprod, vol 18, số p.h 9, tr 1937–1943, tháng 9 2003, doi: 10.1093/humrep/deg369.
[7] H. C. McNamara, S. C. Kane, J. M. Craig, R. V. Short, và M. P. Umstad, “A review of the mechanisms and evidence for typical and atypical twinning”, Am J Obstet Gynecol, vol 214, số p.h 2, tr 172–191, tháng 2 2016, doi: 10.1016/j.ajog.2015.10.930.
[8] A. McLaren, P. Molland, và E. Signer, “Does monozygotic twinning occur in mice?”, Genet Res, vol 66, số p.h 3, tr 195–202, tháng 12 1995, doi: 10.1017/s0016672300034649.
[9] N. Semrl và c.s., “Birth of monozygotic dichorionic twins after a single blastocyst embryo transfer: a case report of genetic determination of zygosity”, F S Rep, vol 4, số p.h 2, tr 231–234, tháng 6 2023, doi: 10.1016/j.xfre.2023.03.002.
[10] S. I. Jundi và c.s., “Monozygotic dichorionic-diamniotic twin pregnancy after single embryo transfer at blastocyst stage: a case report”, JBRA Assist Reprod, vol 25, số p.h 1, tr 168–170, tháng 2 2021, doi: 10.5935/1518-0557.20200052.
[11] D. A. Vaughan, R. Ruthazer, A. S. Penzias, E. R. Norwitz, và D. Sakkas, “Clustering of monozygotic twinning in IVF”, J Assist Reprod Genet, vol 33, số p.h 1, tr 19–26, tháng 1 2016, doi: 10.1007/s10815-015-0616-x.
[12] J. Knopman, L. C. Krey, J. Lee, M. E. Fino, A. P. Novetsky, và N. Noyes, “Monozygotic twinning: an eight-year experience at a large IVF center”, Fertil Steril, vol 94, số p.h 2, tr 502–510, tháng 7 2010, doi: 10.1016/j.fertnstert.2009.03.064.
