Những nghiên cứu về sinh non hiện nay được quan tâm nhiều nhất là các phương pháp giúp ước đoán nguy cơ và dự phòng sinh non. Đối với thai kỳ song thai, siêu âm đo chiều dài kênh cổ tử cung và fetal fibronectin (fFN) được xem là những phương pháp hiệu quả trong dự đoán nguy cơ. Chiều dài kênh cổ tử cung ngắn đã được công nhận là yếu tố tăng nguy cơ sinh non, tuy nhiên hiện nay rất ít khảo sát so sánh trực tiếp hiệu quả của chiều dài kênh cổ tử cung và fFN trong dự đoán nguy cơ sinh sớm.
Một thử nghiệm đoàn hệ tiến cứu mù đôi trên cỡ mẫu nhỏ tiến hành tại Pháp từ tháng 12/2015 đến tháng 5/2016 đã cung cấp thêm nhiều dữ liệu về giá trị của fFN trong dự đoán nguy cơ sinh non. Nghiên cứu thực hiện trên những thai phụ mang song thai (kể cả monochorionic và dichorionic) ở tuổi thai từ 24 tuần đến 33 tuần 6 ngày có dấu hiệu sinh non (bao gồm có ít nhất 3 cơn gò trong 10 phút, kéo dài tối thiểu 30 giây, có thay đổi ở cổ tử cung hay kênh cổ tử cung ngắn trên siêu âm) và màng ối nguyên vẹn. Mục tiêu của nghiên cứu là nhằm xác định xem nếu chỉ thực hiện xét nghiệm fFN có hiệu quả hơn so với kết hợp fFN và đo chiều dài kênh cổ tử cung hay không. Kết quả đánh giá dựa vào tỷ lệ sinh trong vòng 7 ngày và 14 ngày ở tuổi thai < 34 tuần và < 37 tuần.
Kết quả đánh giá trên 40 trường hợp thoả tiêu chuẩn nhận, fFN dương tính khoảng 7,5% (3/40). Chiều dài kênh cổ tử cung dù bất kể giá trị nào cũng không giúp tăng hiệu quả dự đoán. Theo đó, fFN có độ nhạy (66,7%), độ đặc hiệu (97,2%), giá trị tiên đoán dương (66,7%), giá trị tiên đoán âm (97,2%), tỷ lệ khả năng dương (LR) (24,0) và LR âm (0,3) sinh non tự phát trong vòng 7 ngày (p = 0,01). Theo kết quả khảo sát, có 66,1% bệnh nhân có xét nghiệm fFN dương tính sẽ sinh trong vòng 7 ngày so với 2,4% nếu xét nghiệm âm tính; bắt đầu với xác suất trước thử nghiệm là 7,5%. Kết hợp đo chiều dài kênh cổ tử cung và fFN không làm tăng đáng kể LR dương hoặc giảm LR âm.
Nhóm nghiên cứu kết luận xét nghiệm fFN độc lập có thể dự đoán hiệu quả sinh non trong vòng 7 ngày trong số các trường hợp song thai có triệu chứng sinh non. Kết hợp cả hai phương pháp này không làm tăng đáng kể hiệu quả dự đoán so với khi thực hiện riêng lẻ. Các tác giả cũng thừa nhận nghiên cứu này còn nhiều điểm hạn chế, như cỡ mẫu nhỏ nên cần tiến hành nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn ở nhiều trung tâm. Hạn chế thứ hai là chưa so sánh được giá trị của định lượng và định tính fFN. Có thể khi kết hợp định lượng fFN và chiều dài kênh cổ tử cung sẽ tăng hiệu quả dự đoán cao hơn.