Tin tức
on Sunday 03-10-2021 9:32am
Danh mục: Tin quốc tế
CNSH. Vũ Đoan Mỹ Trinh - IVFMD Bình Dương
Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic ovary syndrome - PCOS) là một rối loạn nội tiết tố thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Gần 25% các cặp vợ chồng hiếm muộn có chẩn đoán PCOS, trong khi tỷ lệ mắc PCOM (PolyCystic Ovarian Morphology, hình thái buồng trứng đa nang) được ước tính là 33% ở những bệnh nhân không có triệu chứng bệnh. Hầu hết nang ở phụ nữ PCOS đều không trưởng thành, điều này dẫn đến giảm tỷ lệ có thai và tăng khả năng sảy thai. Chất lượng noãn thường được xác định bởi các yếu tố như khả năng trải qua quá trình phân bào, sự thụ tinh, sự phát triển của phôi và sự thụ thai thành công. Vì sự phát triển của nang noãn bị gián đoạn ở bệnh nhân PCOS, đặc biệt là trong quá trình kích kích buồng trứng có kiểm soát, giảm số lượng noãn và phôi trong các chu kỳ hỗ trợ sinh sản là một vấn đề cần lưu ý. Như các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra, các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến chất lượng của noãn và phôi. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã quyết định đánh giá chất lượng noãn và phôi ở bệnh nhân PCOS.
Nghiên cứu hồi cứu bệnh – chứng (2021) đã được thực hiện với 135 bệnh nhân bao gồm 45 bệnh nhân PCOS và 90 bệnh nhân không PCOS. Các đặc điểm bao gồm tuổi, tiền sử sảy thai và loại vô sinh (vô sinh nguyên phát và thứ phát) được ghi nhận. Các chỉ số TSH, AMH, LH, FSH, prolactin, lipid và đường huyết được theo dõi. Kết quả thai được kiểm tra bằng cách đo nồng độ βhCG trong huyết thanh, thai lâm sàng được xác định bằng cách siêu âm túi thai và tim thai.
Kết quả cho thấy, số lượng noãn thu được cao hơn đáng kể ở bệnh nhân PCOS ( p = 0,024), nhưng không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ các noãn MI, MII và GV thu nhận giữa hai nhóm. Tỷ lệ thai lâm sàng thấp hơn không đáng kể ở bệnh nhân PCOS ( p = 0,066) và có mối tương quan đáng kể giữa số lượng noãn thu được với tuổi ( r = -0,2, p = 0,022) và mức AMH ( r = 0,433, p <0,0001).
Nghiên cứu đã cho thấy mặc dù số lượng noãn ở bệnh nhân PCOS cao hơn đáng kể so với bệnh nhân không mắc PCOS, nhưng chất lượng noãn không có sự khác biệt. Số lượng và chất lượng phôi cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa ở hai nhóm.
Tài liệu tham khảo: Nikbakht, R., Mohammadjafari, R., Rajabalipour, M. et al. Evaluation of oocyte quality in Polycystic ovary syndrome patients undergoing ART cycles. Fertil Res and Pract 7, 2 (2021)
Hội chứng buồng trứng đa nang (Polycystic ovary syndrome - PCOS) là một rối loạn nội tiết tố thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Gần 25% các cặp vợ chồng hiếm muộn có chẩn đoán PCOS, trong khi tỷ lệ mắc PCOM (PolyCystic Ovarian Morphology, hình thái buồng trứng đa nang) được ước tính là 33% ở những bệnh nhân không có triệu chứng bệnh. Hầu hết nang ở phụ nữ PCOS đều không trưởng thành, điều này dẫn đến giảm tỷ lệ có thai và tăng khả năng sảy thai. Chất lượng noãn thường được xác định bởi các yếu tố như khả năng trải qua quá trình phân bào, sự thụ tinh, sự phát triển của phôi và sự thụ thai thành công. Vì sự phát triển của nang noãn bị gián đoạn ở bệnh nhân PCOS, đặc biệt là trong quá trình kích kích buồng trứng có kiểm soát, giảm số lượng noãn và phôi trong các chu kỳ hỗ trợ sinh sản là một vấn đề cần lưu ý. Như các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra, các yếu tố khác nhau có thể ảnh hưởng đến chất lượng của noãn và phôi. Vì vậy, nhóm nghiên cứu đã quyết định đánh giá chất lượng noãn và phôi ở bệnh nhân PCOS.
Nghiên cứu hồi cứu bệnh – chứng (2021) đã được thực hiện với 135 bệnh nhân bao gồm 45 bệnh nhân PCOS và 90 bệnh nhân không PCOS. Các đặc điểm bao gồm tuổi, tiền sử sảy thai và loại vô sinh (vô sinh nguyên phát và thứ phát) được ghi nhận. Các chỉ số TSH, AMH, LH, FSH, prolactin, lipid và đường huyết được theo dõi. Kết quả thai được kiểm tra bằng cách đo nồng độ βhCG trong huyết thanh, thai lâm sàng được xác định bằng cách siêu âm túi thai và tim thai.
Kết quả cho thấy, số lượng noãn thu được cao hơn đáng kể ở bệnh nhân PCOS ( p = 0,024), nhưng không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ các noãn MI, MII và GV thu nhận giữa hai nhóm. Tỷ lệ thai lâm sàng thấp hơn không đáng kể ở bệnh nhân PCOS ( p = 0,066) và có mối tương quan đáng kể giữa số lượng noãn thu được với tuổi ( r = -0,2, p = 0,022) và mức AMH ( r = 0,433, p <0,0001).
Nghiên cứu đã cho thấy mặc dù số lượng noãn ở bệnh nhân PCOS cao hơn đáng kể so với bệnh nhân không mắc PCOS, nhưng chất lượng noãn không có sự khác biệt. Số lượng và chất lượng phôi cũng không có sự khác biệt có ý nghĩa ở hai nhóm.
Tài liệu tham khảo: Nikbakht, R., Mohammadjafari, R., Rajabalipour, M. et al. Evaluation of oocyte quality in Polycystic ovary syndrome patients undergoing ART cycles. Fertil Res and Pract 7, 2 (2021)
Các tin khác cùng chuyên mục:












TIN CẬP NHẬT
TIN CHUYÊN NGÀNH
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020
New World Saigon hotel, Thứ bảy ngày 14 . 6 . 2025
Năm 2020
New World Saigon hotel, Chủ Nhật ngày 15 . 06 . 2025
Năm 2020
Cập nhật lịch tổ chức sự kiện và xuất bản ấn phẩm của ...
GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Kính mời quý đồng nghiệp quan tâm đến hỗ trợ sinh sản tham ...

Y học sinh sản số 73 (Quý I . 2025) ra mắt ngày 20 . 3 . 2025 và ...

Sách ra mắt ngày 6 . 1 . 2025 và gửi đến quý hội viên trước ...
FACEBOOK