Giấc ngủ đóng vai trò rất quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của con người, giúp cơ thể được nghỉ ngơi và phục hồi năng lượng sau các hoạt động hằng ngày. Ngoài ra, giấc ngủ còn giúp điều hòa hoạt động của hệ miễn dịch, nội tiết và tim mạch và góp phần bảo vệ cơ thể khỏi nhiều bệnh lý. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc các rối loạn giấc ngủ ngày càng gia tăng do áp lực công việc, căng thẳng tâm lý, thay đổi lối sống và tình trạng lạm dụng các thiết bị điện tử, mạng xã hội như Tiktok, Facebook,....

Rối loạn giấc ngủ được mô tả là sự bất thường về thời lượng ngủ hoặc các hành vi bất thường xảy ra trong khi ngủ gây ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần và hệ tim mạch và làm suy giảm chức năng sinh sản nam giới [1], [3].

Y học hiện đại phân loại rối loạn giấc ngủ thành 5 nhóm chính:

  • Mất ngủ (Insomnia) là dạng phổ biến nhất, chiếm 20% dân số trưởng thành, biểu hiện bằng việc khó đi vào giấc ngủ, khó duy trì giấc ngủ hoặc thức dậy sớm và không thể ngủ lại [1].
  • Rối loạn nhịp thở (Sleep-Disordered Breathing) là tình trạng hơi thở bị gián đoạn trong khi ngủ, phổ biến nhất là hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn [5].
  • Rối loạn nhịp thức – ngủ sinh học (Circadian Rhythm Disorders) xảy ra khi đồng hồ sinh học của cơ thể không đồng bộ với thời gian ngủ nghỉ thông thường, ví dụ như người làm việc ca đêm hoặc thay đổi múi giờ khi di chuyển từ nước này sang nước khác [2].
  • Chứng buồn ngủ quá mức (Hypersomnolence) đặc trưng bởi tình trạng buồn ngủ kéo dài vào ban ngày dù đã ngủ đủ giấc như chứng ngủ rũ, chứng buồn ngủ vô căn [1].
  • Chứng rối loạn liên quan đến các hành vi bất thường trong khi ngủ (Parasomnias) như mộng du, hoảng sợ khi ngủ, ác mộng và liệt thân khi ngủ (bóng đè) [1].

Rối loạn giấc ngủ gây ra nhiều thay đổi như gây rối loạn nội tiết, stress oxy hóa, viêm mãn tính và thay đổi biểu sinh.

    1. Rối loạn nội tiết [3]

Trục hạ đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục là hệ thống điều hòa nội tiết và kiểm soát chức năng sinh sản nam giới, đặc biệt là testosterone. Khi chất lượng hoặc thời lượng giấc ngủ bị suy giảm, hoạt động của vùng hạ đồi bị ảnh hưởng, làm giảm sự tiết GnRH, từ đó làm giảm bài tiết LH và hormone FSH từ tuyến yên. Điều này khiến quá trình tổng hợp testosterone tại tế bào Leydig bị suy giảm, ảnh hưởng đến khả năng sản xuất tinh trùng.

Ngoài ra, thiếu ngủ và rối loạn nhịp sinh học còn làm tăng hoạt hóa trục hạ đồi – tuyến yên – thượng thận (HPA) làm tăng tiết cortisol kéo dài gây ức chế GnRH tại vùng hạ đồi, làm giảm tiết LH và testosterone.

Bên cạnh đó, rối loạn giấc ngủ làm suy giảm tiết melatonin – một loại hormone duy trì sự tiết LH một cách nhịp nhàng, hỗ trợ sản xuất testosterone. Sự thiếu hụt melatonin làm giảm giải phóng LH, từ đó làm giảm lượng testosterone tiết ra và gây suy yếu quá trình sinh tinh.

    1. Stress oxy hóa (ROS) [3]

Stress oxy hóa là tình trạng mất cân bằng giữa sự sản sinh các gốc tự do và các gốc chống oxy hóa, có thể gây tổn thương DNA tinh trùng ảnh hưởng đến khả năng có thai tự nhiên và giảm tỷ lệ thành công khi điều trị IVF.

Khi giấc ngủ bị rối loạn, sự sản sinh quá mức các gốc tự do (ROS) sẽ dẫn đến gia tăng stress tại ty thể . Ở bệnh nhân mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, tình trạng thiếu oxy – tái oxy hóa lặp đi lặp lại trong đêm kích thích sản xuất ROS quá mức, gây tổn thương tế bào và thúc đẩy phản ứng viêm mạn tính.

    1. Phản ứng gây viêm mạn tính [3]

Rối loạn giấc ngủ kéo dài có thể kích hoạt tình trạng viêm mạn tính. Quá trình này làm gia tăng sản xuất các cytokine tiền viêm như IL-6, TNF-α và IL-8. Những cytokine này đi vào tinh hoàn thông qua hệ tuần hoàn, làm phá vỡ các protein liên kết chặt như occludinclaudin-11 tại hàng rào máu – tinh hoàn, đồng thời thúc đẩy quá trình chết theo chương trình của tế bào Sertoli và tế bào sinh tinh khiến chỉ số phân mảnh DNA tinh trùng (DFI) tăng lên.

Ngoài ra, IL-6 ức chế hoạt động của trục hạ đồi – tuyến yên – sinh dục, làm giảm tiết GnRH, LH và FSH, từ đó làm giảm nồng độ testosterone. Trong khi đó, TNF-α tăng cao trong cả huyết thanh và tinh dịch, có khả năng ức chế quá trình tổng hợp testosterone tại tế bào Leydig, kích thích sản xuất nitric oxide ở tế bào Sertoli và trực tiếp gây chết tế bào sinh tinh. Nồng độ TNF-α cũng được ghi nhận có tương quan nghịch với khả năng di động của tinh trùng.

    1. Thay đổi biểu sinh (Epigenetics) [3]

Rối loạn giấc ngủ gây ra sự methyl hóa DNA bất thường tại các vị trí CpG (cytosine–guanine) trong vùng khởi động của các gen điều hòa nhịp sinh học (CLOCK, BMAL1, LRP5 và HIF-1α) trong tinh hoàn, làm xáo trộn quá trình sinh tinh.

Bên cạnh đó, những thay đổi biểu sinh ở tế bào mầm có khả năng di truyền, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý nội tiết và rối loạn chuyển hóa (như kém dung nạp glucose) cho thế hệ con cái.

Rối loạn giấc ngủ tác động tiêu cực đến khả năng sinh sản của nam giới trên nhiều phương diện, bao gồm: suy giảm chất lượng tinh trùng, mất cân bằng hormone sinh dục và rối loạn chức năng tình dục.

    1. Ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng cả thời lượng và chất lượng giấc ngủ đều có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng tinh dịch. Thời lượng ngủ tối ưu đối với nam giới được ghi nhận khoảng 7–8 giờ mỗi đêm. Thời lượng ngủ bất thường, quá ngắn hay quá dài đều có thể làm suy giảm chất lượng tinh dịch [2]. Nghiên cứu của Wise và cộng sự năm 2018 trên 1.176 cặp vợ chồng đánh giá ảnh hưởng của thời lượng giấc ngủ nam giới đến khả năng thụ thai. Khi lấy nhóm ngủ 8 giờ mỗi đêm làm chuẩn, những người ngủ dưới 6 giờ có tỷ số khả năng sinh sản (fecundability ratio – FR) thấp là 0,62 (KTC 95%: 0,45–0,87), trong khi những người ngủ từ 9 giờ trở lên có FR là 0,73 thấp hơn tiêu chuẩn (KTC 95%: 0,46–1,15). Ngược lại, những người ngủ 6–7 giờ mỗi đêm có FR gần tương đương nhóm chuẩn. Kết quả này cho thấy những nam giới ở hai thái cực của thời lượng giấc ngủ – ngủ quá ít hoặc quá nhiều – có thể bị suy giảm khả năng sinh sản so với những người duy trì thời gian ngủ ở mức tối ưu [4].

Nghiên cứu của Zhong và cs. (2022) phân tích gộp bao gồm 8 nghiên cứu với tổng cộng 2.169 nam giới mắc rối loạn giấc ngủ và 3.858 người có giấc ngủ bình thường cho thấy rối loạn giấc ngủ có liên quan đáng kể đến sự suy giảm chất lượng tinh dịch đồ. Cụ thể, các chỉ số như tổng số lượng tinh trùng, nồng độ tinh trùng, khả năng di động tiến tới và tỷ lệ tinh trùng có hình thái bình thường đều thấp hơn ở nhóm mắc rối loạn giấc ngủ. Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa rối loạn giấc ngủ với thể tích tinh dịch và nồng độ các hormone sinh sản [6].

    1. Ảnh hưởng đến hormone sinh dục

Các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng, tình trạng hạn chế thời gian ngủ (khoảng 5 giờ/đêm) kéo dài trong một tuần có thể làm sụt giảm 10–15% nồng độ testosterone ban ngày so với người ngủ đủ 7-8 giờ/đêm [3].

Chứng mất ngủ mãn tính thường đi kèm với mức testosterone giảm và rối loạn nhịp sinh học có thể làm suy giảm chức năng trục HPG, ảnh hưởng đến sự tiết testosterone [6]. Chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), một rối loạn giấc ngủ nổi bật, có liên quan đến việc giảm testosterone, rối loạn chức năng tình dục và các thông số tinh dịch đồ bất thường.

    1. Ảnh hưởng đến chức năng tình dục

Rối loạn giấc ngủ làm suy giảm testosterone, rối loạn chức năng nội mô mạch máu và mất cân bằng hệ thần kinh tự chủ, gây rối loạn cương dương [2]. Đặc biệt, chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) được xem là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của rối loạn cương dương. Một nghiên cứu của Kohn và cộn sự năm 2019 trên 2.676 nam giới cao tuổi cho thấy tình trạng thiếu oxy về đêm có liên quan đến nguy cơ rối loạn cương dương mức độ trung bình đến nặng cao hơn đáng kể [2].

Bên cạnh đó, rối loạn giấc ngủ làm mất cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh trung ương, khiến tình trạng mệt mỏi kéo dài, lo âu và trầm cảm có thể làm giảm hứng thú và nhu cầu tình dục. Vì vậy, suy giảm ham muốn tình dục ở nam giới bị rối loạn giấc ngủ là hậu quả của sự tương tác giữa rối loạn nội tiết, viêm mạn tính, stress oxy hóa, thay đổi thần kinh trung ương và các yếu tố tâm lý.

Rối loạn giấc ngủ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh sản nam giới. Thiếu ngủ hoặc chất lượng giấc ngủ kém có thể làm rối loạn trục hạ đồi – tuyến yên – sinh dục, gây mất cân bằng hormone sinh sản và ảnh hưởng đến quá trình sinh tinh. Ngoài ra, rối loạn giấc ngủ còn làm tăng stress oxy hóa, làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng, làm suy giảm khả năng tình dục của nam giới.

Vì vậy, việc cải thiện chất lượng giấc ngủ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sức khỏe sinh sản. Việc cải thiện vệ sinh giấc ngủ đóng vai trò thiết yếu trong việc hỗ trợ sức khỏe sinh sản. Các biện pháp can thiệp bao gồm: duy trì thời lượng ngủ 7–8 giờ mỗi ngày; hạn chế tiếp xúc với thiết bị điện tử trước giờ ngủ; kiến tạo môi trường ngủ yên tĩnh; cắt giảm lượng caffeine và cồn (rượu, bia) vào buổi tối. Ngoài ra, việc kết hợp vận động thể chất và các liệu pháp thư giãn tâm lý cũng giúp nâng cao đáng kể chất lượng giấc ngủ . Những biện pháp này không chỉ giúp nâng cao sức khỏe mà còn góp phần cải thiện khả năng sinh sản và tăng hiệu quả điều trị hiếm muộn.

1.  Alsolami, M., Almohammadi, N., Alrashdi, H., Alasmari, M., & Aljadaani, H. (2024). Classified diagnosis of sleep disorders and treatment: a review. International Journal of Medicine in Developing Countries8(10), 2836-2841.

2.  Kohn, T. P., Kohn, J. R., Haney, N. M., Pastuszak, A. W., & Lipshultz, L. I. (2020). The effect of sleep on men’s health. Translational andrology and urology9(Suppl 2), S178.

3.  Rong, J., & Dong, M. (2026). Sleep Disorders and Male Infertility: Integrated Mechanisms and Precision Therapeutic Strategies. Andrology, e70191.

4.  Wise, L. A., Rothman, K. J., Wesselink, A. K., Mikkelsen, E. M., Sorensen, H. T., McKinnon, C. J., & Hatch, E. E. (2018). Male sleep duration and fecundability in a North American preconception cohort study. Fertility and sterility109(3), 453-459.

5.  Zhang, W., Wu, X., Zhang, Y., Gao, H., Liu, G., Geng, H., ... & Zhang, X. (2025). Association between obstructive sleep apnea and male reproductive function: a cross-sectional study with stratified analysis. Frontiers in Endocrinology16, 1636484.

6.  Zhong, O., Liao, B., Wang, J., Liu, K., Lei, X., & Hu, L. (2022). Effects of sleep disorders and circadian rhythm changes on male reproductive health: a systematic review and meta-analysis. Frontiers in physiology13, 913369.