Xu hướng trì hoãn sinh con đã tăng đều đặn trong vài thập kỷ qua. Độ tuổi trung bình của những người lần đầu làm mẹ tăng từ 21,4 tuổi vào năm 1970 lên 26,3 tuổi vào năm 2014 và xu hướng này xuất hiện trên tất cả các chủng tộc và khu vực địa lý ở Hoa Kỳ. Trong khi tỉ lệ sinh giảm hàng năm đối với phụ nữ dưới 30 tuổi, xu hướng ngược lại được nhìn thấy đối với phụ nữ từ 30–44 tuổi. Đáng chú ý hơn, kể từ năm 2007, phụ nữ trên 40 tuổi chiếm tỉ lệ sinh tăng lớn nhất là 15%, so với mức tăng lần lượt là 9% và 1% đối với phụ nữ từ 35–39 và 30–34 (1). Đến năm 2023, phụ nữ dưới 30 tuổi chiếm chưa đến 1/2 số ca sinh (48,6%). Trong đó, phụ nữ ở độ tuổi rất cao (≥ 45 tuổi) cũng tăng từ 0,2 lên 1,1 (tăng 450%) vào năm 2023 so với năm 1990 (2). Từ những dữ liệu thống kê này, có thể thấy xu hướng trì hoãn sinh con và sự gia tăng độ tuổi trung bình của những người lần đầu làm mẹ là một xu hướng trong xã hội hiện đại ngày nay. Nguyên nhân của xu hướng này chủ yếu do phụ nữ ngày càng ưu tiên sự nghiệp, giáo dục và ổn định tài chính trước khi quyết định kết hôn và sinh con. Điều này dẫn đến hệ quả các phụ nữ lớn tuổi có thể cần đến sự can thiệp y tế khi có quyết định sinh con. Khi lớn tuổi, việc mang thai và sinh con đi kèm với nhiều rủi ro và thách thức đáng kể, đồng thời khả năng sinh sản cũng giảm so với khi trẻ tuổi. Sự suy giảm khả năng sinh sản ở phụ nữ do tuổi tác không chỉ liên quan đến việc giảm số lượng noãn mà còn xuất hiện nhiều bất thường về mặt di truyền của noãn. Sự suy giảm dự trữ buồng trứng của phụ nữ cũng trở nên nghiêm trọng hơn khi bước sang tuổi 40. Theo báo cáo từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ, khả năng mang thai sau 42 tuổi giảm đáng kể, tuổi càng cao khả năng mang thai càng giảm và cuối cùng sẽ giảm về bằng 0. Ngoài ra, sinh con khi lớn tuổi còn cho thấy nguy cơ sảy thai và mắc các dị tật di truyền chu sinh cao hơn (3,4). Các nghiên cứu phân tích di truyền cho thấy tỉ lệ phôi lệch bội tăng theo tuổi mẹ và có thể vượt quá 90% ở phụ nữ trên 44 tuổi, dẫn đến tỉ lệ sảy thai và thất bại làm tổ cao hơn đáng kể so với các nhóm tuổi trẻ hơn (5). Đồng thời, tuổi mẹ rất cao vẫn là yếu tố nguy cơ độc lập đối với tiền sản giật, sinh non, chậm tăng trưởng thai nhi và cân nặng sơ sinh thấp, ngay cả sau khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn khác (6).

Mặc dù kết quả sinh sản kém liên quan đến tuổi rất cao, tuy nhiên số lượng phụ nữ ở độ tuổi này tìm kiếm phương pháp điều trị TTTON bằng giao tử của chính họ có xu hướng tăng trong thập kỷ qua. Có khoảng 25% tổng số chu kỳ được thực hiện trên toàn thế giới điều trị cho những phụ nữ trên 40 tuổi. Điều này đặt ra nhiều thách thức cho ngành y học sinh sản, đòi hỏi sự phát triển của các công nghệ hỗ trợ sinh sản tiên tiến và các chính sách chăm sóc sức khỏe phù hợp. Do đó, bài viết này sẽ phân tích tổng hợp kết quả điều trị và những rủi ro thai sản tiềm ẩn ở những phụ nữ rất lớn tuổi (Very Advanced Maternal Age -VAMA, ≥ 45 tuổi) khi thực hiện thụ tinh trong nghiệm.

Lĩnh vực hỗ trợ sinh sản trong hai thập kỷ qua đã có những sự phát triển vượt bậc để cải thiện kết quả điều trị, tuy nhiên tiên lượng ở nhóm phụ nữ lớn tuổi vẫn còn kém. Điều trị cho những phụ nữ này có tỉ lệ thành công thấp và trên hết ngay cả khi đạt được thai kỳ, tỉ lệ sảy thai vẫn cao. Sự suy giảm số lượng và chất lượng noãn, tức là ‘lão hóa buồng trứng’, là lý do chính khiến kết quả điều trị thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) kém đi đối với các trường hợp này. Chất lượng noãn là yếu tố quyết định đến chất lượng phôi, khả năng mang thai và tỉ lệ trẻ sinh sống. Nguồn gốc của lão hóa buồng trứng do nhiều yếu tố tác động và tuổi của phụ nữ vẫn được coi là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất trong việc xác định sự thành công của chu kỳ IVF.

Kết quả phôi học

Nghiên cứu hồi cứu của Fernandez và cộng sự vào năm 2021, thực hiện trên 833 phụ nữ từ 43 tuổi trở lên trải qua chu kỳ thực hiện phương pháp IVF/ICSI, sử dụng noãn tự thân từ năm 1995 đến năm 2019 (7). Phân tích theo độ tuổi cho thấy số lượng phức hợp tế bào noãn–cumulus thu được có sự khác biệt đáng kể giữa bốn nhóm tuổi: 43 tuổi (5 noãn); 44 tuổi (5 noãn); 45 tuổi (3 noãn); ≥ 45 tuổi (2,5 noãn); p < 0,01; tuy nhiên, số lượng noãn trưởng thành tương tự nhau ở các nhóm. Kết quả còn cho thấy chỉ 11,4% trường hợp có kết quả xét nghiệm β-hCG dương tính, trong đó 62,1% bị sảy thai trước 12 tuần và tỉ lệ sinh sống chỉ đạt 4,3%. Tỉ lệ β-hCG dương tính vẫn ở mức thấp: 43 tuổi (13,4%); 44 tuổi (7,3%); 45 tuổi (2,6%) và ≥ 46 tuổi (9,1%); p = 0,03. Tỉ lệ trẻ sinh sống có kết quả tương tự khi giảm dần theo độ tuổi: 43 tuổi (4,8%); 44 (3,6%); 45 tuổi (0%); và ≥ 46 tuổi (4,5%); p = 0,5. Nghiên cứu này cho thấy cơ hội có trẻ sinh sống ở những bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên trải qua IVF/ICSI với noãn của chính họ là rất thấp, ngay cả trong trường hợp bệnh nhân có dự trữ buồng trứng bình thường.

Nghiên cứu hồi cứu của Jelena và cộng sự công bố năm 2023 trên 491 phụ nữ ≥ 35 tuổi và đã trải qua một chu kỳ điều trị TTTON chỉ ra rằng phụ nữ lớn tuổi có những rủi ro liên quan khi làm IVF (8). Bệnh nhân được phân loại thành chín nhóm tuổi lần lượt: 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42–44 và ≥ 45 tuổi. Kết quả cho thấy tuổi phụ nữ có ảnh hưởng tiêu cực đến số lượng noãn trung bình thu được, số lượng noãn trưởng thành và số lượng phôi phân chia trung bình. Cụ thể số lượng noãn trung bình thu được của nhóm VAMA giảm rõ rệt so với nhóm 35 tuổi (4,20 ± 2,6 so với 7,18 ± 3,86, p<0,001), và khi so sánh với các nhóm tuổi còn lại đều cho thấy xu hướng giảm đáng kể. Ngoài ra, số lượng phôi phân chia trung bình cũng ghi nhận kết quả giảm đáng kể ở nhóm VAMA so với các nhóm tuổi còn lại. Tuy nhiên, tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ phôi chất lượng tốt vẫn ổn định ở tất cả các nhóm tuổi và không thấy sự khác biệt về mặt thống kê.

Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy khi phụ nữ đạt đến ngưỡng tuổi 45, số lượng noãn thu nhận sau kích thích buồng trứng giảm đáng kể, song song với đó lá tỉ lệ noãn trưởng thành cũng giảm. Điều này có thể được giải thích rằng khi tuổi mẹ tăng cao thì dự trữ và chức năng cơ bản của buồng trứng có sự suy giảm, do đó việc đáp ứng với các phác đồ kích thích buồng trứng cũng trở nên khó khăn hơn. Đây là một thách thức lớn trong hỗ trợ sinh sản cho nhóm VAMA, do đó cần có chiến lược điều trị mang tính cá thể hoá cho phụ nữ lớn tuổi. Chiến lược trữ đông noãn tích lũy, kết hợp chuyển phôi tươi hay tích luỹ phôi đông lạnh nên được xem xét kỹ càng trước khi tiến hành điều trị.

Kết quả lâm sàng

Kết quả phôi học cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực từ tuổi tác lên số lượng và chất lượng noãn, điều này dẫn đến những kết quả lâm sàng sau đó cũng bị ảnh hưởng.

Nghiên cứu thuần tập hồi cứu của David B. Seifer và cộng sự năm 2023 về chu kỳ hỗ trợ sinh sản tự thân đầu tiên của phụ nữ > 42 tuổi từ năm 2014–2020 bắt nguồn từ cơ sở dữ liệu SART CORS (13). Từ năm 2014-2020, có 24.650 phụ nữ > 42 tuổi không có tiền sử điều trị trước đó đã trải qua 54.132 chu kỳ điều trị, dẫn đến 1.982 ca sinh sống. Nhìn chung, 54.132 chu kỳ này chiếm 6,6% tổng số chu kỳ hỗ trợ sinh sản ở mọi lứa tuổi được thực hiện trong cùng khoảng thời gian này. Đối với nhóm dân số được nghiên cứu, các đối tượng trẻ hơn có số lượng phôi được chuyển cao hơn đáng kể (p < 0,001). Những phụ nữ trong nhóm tuổi 43 và 44 có số lượng phôi được chuyển ít hơn (p < 0,01). Nhóm 45 tuổi cũng có tỉ lệ chuyển phôi nang thấp hơn với mỗi chu kỳ điều trị (p < 0,05). Phụ nữ ở độ tuổi 43 và 44 có thể có tỉ lệ trẻ sinh sống lần lượt là khoảng 9% và 7%. Phụ nữ 45 và 46 tuổi có thể đạt được tỉ lệ trẻ sinh sống lần lượt là khoảng 4% và 3%. Tỉ lệ trẻ sinh sống trong các chu kỳ sử dụng trứng tự thân là thấp nhất đối với phụ nữ ≥ 47 tuổi, dao động từ 1–2%. Những phụ nữ ở độ tuổi 44, 45, 46, 47, 48 và 49 có thể đạt được tỉ lệ trẻ sinh sống tối đa lần lượt là 8,6%, 5,0%, 3,6%, 2,5%, 1,5% và 2,7%. Ở những phụ nữ từ 46 tuổi trở lên, tỉ lệ trẻ sinh sống không còn khác biệt đáng kể (p > 0,05) (9). Các kết quả trên gần tương tự với nghiên cứu trước đó của Vinay Gunnala và cộng sự vào năm 2018 với tỉ lệ trẻ sinh sống trên mỗi lần chuyển là 4,4% ở phụ nữ 45 tuổi, trong khi đó phụ nữ 46 tuổi chỉ đạt 0,8%. Không có trẻ sinh sống nào được ghi nhận ở phụ nữ từ 47–49 tuổi, mặc dù họ đã mang thai sau chuyển phôi (10).

Với kết quả tương tự Jelena cũng ghi nhận tỉ lệ mang thai giảm dần khi số tuổi tăng, cụ thể khi tăng độ tuổi từ 35 đến trên 45 tuổi tỉ lệ này giảm từ 49,1% xuống 24%. Kết quả tương tự cũng được phát hiện khi xem xét kết quả thai lâm sàng và trẻ sinh sống. Tỉ lệ thai lâm sàng giảm đáng kể từ 38,2% (nhóm 35 tuổi) xuống còn 16% (nhóm 45 tuổi). Đối với tỉ lệ trẻ sinh sống, chỉ ghi nhận 8% ở nhóm trên 45 tuổi so với 38,2% ở nhóm 35 tuổi (8).

Bên cạnh việc tỉ lệ trẻ sinh sống thấp, nhóm VAMA sau chuyển phôi còn đối mặt với nguy cơ sảy thai cao hơn đáng kể. Phụ nữ ở độ tuổi 46 và 47–49 có tỉ lệ có thai > 10%, tỉ lệ có thai cộng dồn trên mỗi lần chuyển là 18,7%, trong đó 82,1% thai kỳ kết thúc bằng sảy thai. Thông tin này góp vai trò như một công cụ tư vấn quan trọng cho phụ nữ từ 45 tuổi trở lên muốn điều trị hỗ trợ sinh sản với noãn tự thân.

Tuy nhiên, cần tư vấn rủi ro sau mang thai cho những bệnh nhân này, đặc biệt khi tỉ lệ mang thai thấp nhưng sảy thai thường rất cao, do chỉ có một tỉ lệ nhỏ bệnh nhân đạt được trẻ sinh sống.

Phụ nữ mang thai ở độ tuổi ≥ 45 thường đối mặt với nhiều thách thức về sức khỏe. Sự lão hóa tự nhiên dẫn đến suy giảm chức năng của các cơ quan, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường và bệnh tim mạch. Những bệnh lý này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của thai nhi. Các nghiên cứu đều cho thấy phụ nữ mang thai và sinh con ở độ tuổi mãn kinh có nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp, tiền sản giật, đái tháo đường cao hơn bình thường. Ngoài ra, họ cũng dễ gặp tình trạng loãng xương do sự sụt giảm nội tiết tố estrogen trong độ tuổi mãn kinh cùng với việc canxi trong cơ thể cần phải chia sẻ cho thai nhi, dẫn đến nguy cơ loãng xương cao hơn. Những phụ nữ trong nhóm tuổi này cần được quản lý thai kỳ chặt chẽ hơn để giảm thiểu rủi ro.

Nguy cơ và biến chứng khi mang thai và sau sinh

Đái tháo đường thai kỳ: Tuổi mẹ cao là một yếu tố nguy cơ có liên quan mật thiết với đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) và các biến cố sản khoa có hại khác. Các nghiên cứu dịch tễ gần đây cho thấy nguy cơ ĐTĐTK tăng theo tuổi người mẹ, với tỉ lệ cao hơn đáng kể ở nhóm ≥ 35 tuổi. Một nghiên cứu đoàn hệ lớn ở Nhật Bản năm 2025 báo cáo rằng phụ nữ mang thai ở tuổi 35–39, và đặc biệt là ≥ 40, có tỉ lệ mắc ĐTĐTK sớm và muộn cao hơn đáng kể so với nhóm tham chiếu 30–34 tuổi (aOR tăng lên đến 2,49 ở nhóm ≥ 40) sau khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu (11). Bằng chứng lâm sàng từ nghiên cứu hồi cứu năm 2025 cũng xác định tuổi mẹ cao là một trong những yếu tố nguy cơ độc lập của ĐTĐTK, cùng với chỉ số khối cơ thể trước mang thai cao, tiền sử gia đình đái tháo đường và mức HbA1c ban đầu cao (12). Những dữ liệu này nhấn mạnh rằng phụ nữ mang thai tuổi rất lớn nên được sàng lọc ĐTĐTK sớm và theo dõi chặt chẽ trong thai kỳ, đồng thời cần quản lý yếu tố nguy cơ như BMI trước mang thai. Việc nhận diện sớm nhóm nguy cơ cao giúp cải thiện kết cục cho cả mẹ và thai nhi thông qua can thiệp kịp thời và theo dõi chuyên sâu.

Tiền sản giật và sản giật: Nguy cơ tiền sản giật (Pre-eclampsia – PE) tăng rõ rệt ở phụ nữ mang thai lớn tuổi (≥ 40 tuổi) so với nhóm trẻ tuổi hơn. Trong một nghiên cứu hồi cứu thu thập 452 ca PE nặng, phụ nữ ≥ 40 tuổi có nguy cơ phát triển tiền sản giật sau sinh cao hơn khoảng 2,4 lần so với nhóm < 40 tuổi (OR = 2,4; 95% CI 1,0–5,6; p = 0,046). Bên cạnh đó, tuổi ≥ 40 cũng là yếu tố độc lập làm tăng nguy cơ các biến chứng liên quan PE nặng như tổn thương thận cấp (OR = 2,5; 95% CI 1,2–4,9) (13). Các bằng chứng khác cũng cho thấy rối loạn tăng huyết áp thai kỳ nói chung (gồm PE) có liên quan tới tuổi mẹ cao hơn ở nhiều dân số khác nhau (14).

Sảy thai và thai lưu: Nguy cơ sảy thai tăng rõ rệt theo tuổi của người mẹ và là một trong những biến cố thường gặp nhất ở nhóm phụ nữ mang thai rất lớn tuổi. Một nghiên cứu đoàn hệ quy mô lớn ở Đan Mạch báo cáo phụ nữ ≥ 40 tuổi có tỉ lệ sảy thai 1,68% so với 0,42% ở nhóm 20–34 tuổi (OR 3,10; 99,8% CI 2,19–4,38), cho thấy nguy cơ tăng rõ rệt theo tuổi mẹ (15). Dữ liệu thống kê tổng hợp cho thấy nhóm 35–39 tuổi có tỉ lệ sảy thai cao hơn nhóm trẻ, tỉ lệ tiếp tục tăng hơn ở 40–44 tuổi và ≥ 45 tuổi so với 25–29 tuổi, với nguy cơ tăng dần theo độ tuổi mẹ. Mặc dù các phân tích chi tiết về thai lưu theo nhóm tuổi vẫn còn hạn chế, các mô hình dịch tễ đều ghi nhận tỉ lệ thất bại thai kỳ (bao gồm sảy thai sớm và muộn) tăng theo tuổi mẹ, nhấn mạnh vai trò của tuổi cao trong rủi ro mất thai (16).

Thai ngoài tử cung: Nguy cơ mang thai ngoài tử cung tăng rõ rệt theo tuổi của người mẹ và là một biến chứng quan trọng cần lưu ý ở nhóm phụ nữ mang thai rất lớn tuổi. Các nghiên cứu dịch tễ học gần đây cho thấy nguy cơ mang thai ngoài tử cung ở phụ nữ ≥ 40 tuổi cao hơn khoảng 2–3 lần so với phụ nữ trẻ, và tiếp tục tăng ở các nhóm tuổi cao hơn. Một phân tích tổng hợp hệ thống cho thấy tuổi mẹ ≥ 40 liên quan tới nguy cơ thai ngoài tử cung tăng đáng kể (OR= 1,46; 95% CI: 1,19–1,78) so với nhóm tuổi thấp hơn, ngay cả khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ khác (16). Cơ chế sinh lý của nguy cơ này được đề xuất là sự suy giảm chức năng vận động của ống dẫn trứng do lão hóa, sự tăng tỉ lệ tổn thương ống dẫn trứng từ viêm nhiễm hay phẫu thuật trước đó, và sự thay đổi nội tiết – miễn dịch theo tuổi. Các nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh rằng mang thai sau hỗ trợ sinh sản không loại trừ hoàn toàn nguy cơ thai ngoài tử cung ở phụ nữ lớn tuổi, vì các yếu tố đường sinh dục và ống dẫn trứng vẫn đóng vai trò quan trọng trong vị trí làm tổ của phôi. Do đó, việc siêu âm sớm để xác định vị trí túi thai ở phụ nữ ≥ 40 tuổi là cần thiết để phát hiện thai ngoài tử cung ngay từ những tuần đầu của thai kỳ, giảm nguy cơ biến chứng nghiêm trọng (16).

Sinh non và trẻ nhẹ cân: Phụ nữ mang thai ở độ tuổi rất lớn (> 40 tuổi) có nguy cơ sinh non và sinh con nhẹ cân cao hơn rõ rệt so với phụ nữ trẻ hơn. Một nghiên cứu đoàn hệ lớn cho thấy phụ nữ lớn tuổi có tăng nguy cơ sinh non và sinh con nhẹ cân so với nhóm tuổi trung bình, và các kết quả này vẫn tồn tại ngay cả khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu như đa thai hay bệnh nền khác (17). Đáng chú ý, dữ liệu tổng hợp từ các nghiên cứu quy mô lớn ở nhiều nước cho thấy phụ nữ mang thai trên 40 tuổi có nguy cơ sinh con trước 37 tuần và sinh con nhẹ cân (cân nặng khi sinh < 2500 g) cao hơn so với nhóm trẻ tuổi hơn, và điều này không chỉ giới hạn ở một khu vực hay nhóm dân cư cụ thể. Những kết quả này phản ánh ảnh hưởng phức tạp của tuổi mẹ đối với môi trường sinh lý của thai kỳ và các yếu tố liên quan đến kết cục sơ sinh (18). Những bằng chứng này cho thấy sinh non, trẻ nhẹ cân và thai chậm phát triển là các biến chứng sơ sinh quan trọng ở phụ nữ mang thai rất lớn tuổi, đặc biệt trong các thai kỳ đạt được nhờ hỗ trợ sinh sản, nhấn mạnh sự cần thiết của theo dõi thai kỳ nghiêm ngặt và quản lý đa chuyên khoa cho nhóm bệnh nhân này.

Dị tật bẩm sinh không do bất thường nhiễm sắc thể (non-chromosomal congenital anomalies – NCA): Bên cạnh sự gia tăng rõ rệt các bất thường nhiễm sắc thể theo tuổi mẹ, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy nguy cơ dị tật bẩm sinh không do nhiễm sắc thể và các rối loạn phát triển thần kinh – vận động của trẻ cũng tăng theo độ tuổi của người mẹ, đặc biệt ở nhóm phụ nữ mang thai rất lớn tuổi. Một đánh giá hệ thống và phân tích tổng hợp các nghiên cứu dựa trên dân số bao gồm hơn 70 nghiên cứu từ nhiều quốc gia cho thấy nguy cơ tổng hợp của NCA tăng theo tuổi thai phụ: Ở phụ nữ > 35 tuổi, nguy cơ tổng NCA tăng khoảng 31% (RR 1,31; 95% CI 1,07–1,61) so với nhóm tuổi trẻ hơn; nhóm phụ nữ > 40 tuổi, nguy cơ tiếp tục tăng đáng kể, với RR khoảng 1,44 (95% CI 1,25–1,66). Đồng thời, khi loại trừ những dị tật do bất thường nhiễm sắc thể, nguy cơ NCA ở nhóm tuổi > 40 vẫn tăng khoảng 25% (RR 1,25; 95% CI 1,08–1,46) (19). Cũng trong phân tích này, các loại dị tật cấu trúc cụ thể có liên quan rõ rệt tới tuổi mẹ cao bao gồm: dị tật sứt môi, hở hàm ếch: RR 1,57 (95% CI 1,11–2,20) ở tuổi >40; khuyết tật hệ tuần hoàn (như khuyết tật tim bẩm sinh): RR 1,94 (95% CI 1,28–2,93) ở tuổi > 40 (19). Những dữ liệu này cho thấy tuổi mẹ rất cao không chỉ liên quan đến bất thường nhiễm sắc thể mà còn làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh không do NST và các rối loạn phát triển của trẻ, nhấn mạnh tầm quan trọng của tư vấn tiền thai, sàng lọc hình thái học chi tiết và theo dõi phát triển sau sinh ở nhóm phụ nữ VAMA.

Quản lý sức khỏe thai kỳ

Để giảm thiểu các nguy cơ và biến chứng, việc quản lý sức khỏe thai kỳ cho phụ nữ thuộc nhóm VAMA cần được thực hiện cẩn thận và toàn diện. Trước khi quyết định mang thai, phụ nữ nên thực hiện các xét nghiệm và kiểm tra cần thiết để đánh giá tình trạng sức khỏe tổng quát, đặc biệt là các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch. Việc này giúp xác định các yếu tố nguy cơ và có kế hoạch quản lý phù hợp. Phụ nữ mang thai ở độ tuổi VAMA cần được theo dõi chặt chẽ bởi bác sĩ chuyên khoa. Các kiểm tra định kỳ bao gồm: kiểm tra tim mạch nhằm đánh giá chức năng tim, phát hiện sớm các dấu hiệu suy tim hoặc bất thường khác, theo dõi huyết áp thai kỳ thường xuyên để phát hiện và quản lý kịp thời tình trạng tăng huyết áp hoặc tiền sản giật. Ngoài ra, thực hiện các xét nghiệm như: xét nghiệm mỡ máu và đường huyết giúp ánh giá mức độ cholesterol và triglyceride, giúp phòng ngừa các biến chứng tim mạch, đồng thời phát hiện sớm đái tháo đường thai kỳ để có biện pháp kiểm soát phù hợp. Siêu âm thai được thực hiện để theo dõi sự phát triển của thai nhi, phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh và đánh giá tình trạng nhau thai. Chế độ ăn uống cần được duy trì cân đối, giàu dinh dưỡng và hạn chế các thực phẩm có hại. Tập thể dục nhẹ nhàng, phù hợp với tình trạng sức khỏe và tham gia các lớp học tiền sản giúp phụ nữ VAMA chuẩn bị tốt cho quá trình sinh. Phụ nữ VAMA nên được tư vấn di truyền cụ thể ở các trường hợp có nguy cơ cao về các bất thường nhiễm sắc thể để hiểu rõ các nguy cơ và lựa chọn các xét nghiệm sàng lọc phù hợp. Việc mang thai ở độ tuổi rất cao đi kèm với nhiều nguy cơ và biến chứng cho cả mẹ và thai nhi, vì thế nhận thức rõ ràng về những rủi ro này và thực hiện các biện pháp quản lý thai kỳ chặt chẽ là cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và con (20).

Điều trị hỗ trợ sinh sản ở những phụ nữ rất lớn tuổi đang là xu hướng trong xã hội hiện đại ngày nay. Tuy nhiên, việc điều trị còn gặp nhiều khó khăn khi phụ nữ ở độ tuổi này đang phải đối mặt với tình trạng lão hoá. Do đó, gần như các kết quả điều trị trên nhóm VAMA hiện nay còn rất kém. Ngoài ra, nếu thành công, phụ nữ VAMA còn phải trải qua thai kỳ nhiều rủi ro và nguy cơ cao mắc các biến chứng sản khoa. Do đó, việc hỗ trợ sinh sản trên nhóm VAMA cần được tư vấn cụ thể, rõ ràng và minh bạch khả năng thành công cũng như những biến chứng mà bệnh nhân có thể phải đối mặt. Bên cạnh đó, xu hướng hỗ trợ sinh sản nên song song cung cấp dịch vụ tư vấn, đồng hành cùng bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị và mang thai nên được cân nhắc triển khai trong tương lai.

  1. National Center for Health Statistics (US). Health, United States, 2015: With Special Feature on Racial and Ethnic Health Disparities. Hyattsville (MD): National Center for Health Statistics (US); 2016.
  2. Driscoll AK, Hamilton BE. Effects of Age-specific Fertility Trends on Overall Fertility Trends: United States, 1990–2023. In: National Vital Statistics Reports. National Center for Health Statistics (US); 2025.
  3. Pethő B, Váncsa S, Váradi A, Agócs G, Mátrai Á, Zászkaliczky-Iker F, et al. Very young and advanced maternal age strongly elevates the occurrence of nonchromosomal congenital anomalies: a systematic review and meta-analysis of population-based studies. Am J Obstet Gynecol. 2024 Nov;231(5):490-500.e73. 
  4. Hourvitz A, Machtinger R, Maman E, Baum M, Dor J, Levron J. Assisted reproduction in women over 40 years of age: how old is too old? Reprod Biomed Online. 2009 Oct;19(4):599–603.
  5. Matorras R, Sierra S, Pérez-Fernández S, Malaina I, Santos-Zorrozua B, Prieto B, et al. Influence of parental age on chromosomal abnormalities in PGT-A embryos: exponentially increasing in the mother and completely null in the father. J Assist Reprod Genet. 2025 Jun;42(6):1833–44.
  6. Chonnak, U., Pongsatha, S., Luewan, S., Sirilert, S., & Tongsong, T. Pregnancy outcomes among women near the end of reproductive age. BMC Pregnancy and Childbirth. 2025, 25(1), 493.
  7. Fernandez AM, Drakopoulos P, Rosetti J, Uvin V, Mackens S, Bardhi E, et al. IVF in women aged 43 years and older: a 20-year experience. Reprod Biomed Online. 2021 Apr;42(4):768–73.
  8. Havrljenko J, Kopitovic V, Pjevic AT, Milatovic S, Pavlica T, Andric N, et al. The Prediction of IVF Outcomes with Autologous Oocytes and the Optimal MII Oocyte/Embryo Number for Live Birth at Advanced Maternal Age. Medicina (Kaunas). 2023 Oct 10;59(10):1799.
  9. Seifer DB, Wang SF, Frankfurter D. Cumulative live birth rates with autologous oocytes plateau with fewer number of cycles for each year of age > 42. Reprod Biol Endocrinol. 2023 Oct 23;21(1):94.
  10.  Gunnala V, Irani M, Melnick A, Rosenwaks Z, Spandorfer S. One thousand seventy-eight autologous IVF cycles in women 45 years and older: the largest single-center cohort to date. J Assist Reprod Genet. 2018 Mar;35(3):435–40. 
  11.  Tagami K, Iwama N, Hamada H, Tomita H, Kudo R, Kumagai N, et al. Advanced maternal age is a risk factor for both early and late gestational diabetes mellitus: The Japan Environment and Children’s Study. J Diabetes Investig. 2025 Apr;16(4):735–43. 
  12.  Kishimoto M, Tamaru S, Odawara M. Risk factors for gestational diabetes mellitus and postpartum glucose intolerance: a retrospective study from a hospital specializing in infertility treatment. Sci Rep. 2025 Nov 12;15(1):39731. 
  13.  Gilboa I, Kupferminc M, Schwartz A, Landsberg Ashereh Y, Yogev Y, Rappaport Skornik A, et al. The Association between Advanced Maternal Age and the Manifestations of Preeclampsia with Severe Features. J Clin Med. 2023 Oct 16;12(20):6545. 
  14.  Carducci, M. E., & Izbizky, G. Edad materna avanzada como factor de riesgo de resultados adversos maternos y perinatales. Revista de la Facultad de Ciencias Médicas de Córdoba. 2024. 81(1), 24-39..
  15.  Frederiksen LE, Ernst A, Brix N, Braskhøj Lauridsen LL, Roos L, Ramlau-Hansen CH, et al. Risk of Adverse Pregnancy Outcomes at Advanced Maternal Age. Obstet Gynecol. 2018 Mar;131(3):457–63.
  16.  du Fossé NA, van der Hoorn MLP, van Lith JMM, le Cessie S, Lashley EELO. Advanced paternal age is associated with an increased risk of spontaneous miscarriage: a systematic review and meta-analysis. Hum Reprod Update. 2020 Sep 1;26(5):650–69. 
  17.  Liu Z, Tang J, Li J, Zhang Y, Yan J. Effect of advanced maternal age on the risk of adverse birth outcomes: a retrospective cohort study. BMC Pregnancy Childbirth. 2025 Dec 15;25(1):1308. 
  18.  Aradhya S, Tegunimataka A, Kravdal Ø, Martikainen P, Myrskylä M, Barclay K, et al. Maternal age and the risk of low birthweight and pre-term delivery: a pan-Nordic comparison. Int J Epidemiol. 2023 Feb 8;52(1):156–64. 
  19.  Pethő B, Váncsa S, Váradi A, Agócs G, Mátrai Á, Zászkaliczky-Iker F, et al. Very young and advanced maternal age strongly elevates the occurrence of non chromosomal congenital anomalies: a systematic review and meta-analysis of population-based studies. Am J Obstet Gynecol. 2024 Nov;231(5):490-500.e73. 
  20.  Howell A, Blott M. Very advanced maternal age. The Obstetrician & Gynaecologist. 2021;23(1):38–47.