Giới thiệu

Vô sinh không chỉ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, mà còn tác động đến nhiều yếu tố trong cuộc sống của cặp vợ chồng trong suốt quá trình điều trị. Trong số các vấn đề phát sinh, yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng nhưng ít được quan tâm đúng mức. Trong bối cảnh điều trị hỗ trợ sinh sản (HTSS), đặc biệt là thụ tinh trong ống nghiệm, gánh nặng về mặt tâm lý có thể gia tăng do quá trình điều trị kéo dài với nhiều thủ thuật xâm lấn, chi phí cao, sự không chắc chắn của kết quả và nguy cơ thất bại của chu kỳ điều trị [2, 4].

Trong suốt quá trình điều trị HTSS, bệnh nhân trải qua nhiều thời điểm dễ tổn thương về mặt tâm lý [5]. Do đó, hỗ trợ tâm lý không nên được xem là hoạt động bổ sung tùy chọn, mà cần được nhìn nhận như một phần thiết yếu của chăm sóc toàn diện trong y học sinh sản. Hiệp hội Sinh sản và Phôi học Châu Âu (ESHRE) nhấn mạnh rằng hỗ trợ tâm lý không chỉ là trách nhiệm của chuyên gia sức khỏe tâm thần, mà cần được lồng ghép vào thực hành hằng ngày của toàn bộ nhân viên y tế tại cơ sở điều trị [4]. Trong đó, nữ hộ sinh và điều dưỡng giữ vai trò đặc biệt nhờ lợi thế tiếp xúc thường xuyên, liên tục và trực tiếp với người bệnh.

Bài viết dưới đây nhằm làm rõ vai trò của nữ hộ sinh, điều dưỡng trong hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân điều trị hỗ trợ sinh sản và đề xuất hướng chăm sóc tâm lý bước đầu vào thực hành lâm sàng thường quy.

Nội dung

Theo các nghiên cứu hiện nay, hỗ trợ tâm lý trong điều trị vô sinh là một lĩnh vực đa tầng, bao gồm chăm sóc tâm lý thường quy, can thiệp điều dưỡng, tư vấn tâm lý - xã hội và trị liệu chuyên sâu. Trong phạm vi bài viết này, trọng tâm được đặt vào vai trò tuyến đầu của nữ hộ sinh, điều dưỡng là nhận diện nhu cầu tâm lý, giáo dục và chuẩn bị người bệnh, hỗ trợ cảm xúc trong quá trình điều trị, chăm sóc sau thất bại HTSS, tăng tuân thủ và chuyển tuyến khi vượt quá phạm vi chuyên môn.

Gánh nặng tâm lý và các thời điểm nhạy cảm trong điều trị hỗ trợ sinh sản

Vô sinh thường đi kèm nhiều vấn đề tâm lý, trong đó lo âu và trầm cảm là hai kết cục được nghiên cứu nhiều nhất. Các yếu tố gây căng thẳng bao gồm chẩn đoán vô sinh, áp lực điều trị, chi phí, kỳ vọng gia đình, sự không chắc chắn của kết quả, thủ thuật xâm lấn và nguy cơ thất bại chu kỳ [2–4]. Trong hỗ trợ sinh sản, các thời điểm như bắt đầu kích thích buồng trứng, chọc hút noãn, chuyển phôi, chờ thử thai và nhận kết quả thất bại là những giai đoạn có nguy cơ cao căng thẳng tâm lý [4, 5]. Purewal và cộng sự ghi nhận rằng những bệnh nhân có kết quả điều trị tốt (bao gồm có thai hoặc sinh con thành công) có mức trầm cảm và lo âu trước điều trị thấp hơn nhóm không đạt kết quả điều trị như mong muốn [8].

Vai trò chăm sóc tuyến đầu: Giáo dục, nhận diện và hỗ trợ cảm xúc

Giáo dục và chuẩn bị tâm lý trước điều trị cho bệnh nhân vô sinh là một trong những vai trò cơ bản nhất của nữ hộ sinh, điều dưỡng. Trong thực hành HTSS, người bệnh phải tiếp nhận nhiều thông tin phức tạp về xét nghiệm, cách sử dụng thuốc, tiêm thuốc, lịch tái khám, thủ thuật, kết quả phôi, kết quả chuyển phôi… và các nguy cơ bất lợi có thể xảy ra. Khi thông tin không rõ ràng hoặc không nhất quán, người bệnh dễ rơi vào trạng thái mơ hồ, lo âu và mất kiểm soát. Nữ hộ sinh, điều dưỡng có thể giảm gánh nặng này bằng cách cung cấp thông tin theo cấu trúc rõ ràng, giải thích các bước điều trị bằng ngôn ngữ dễ hiểu, hướng dẫn người bệnh chuẩn bị cho các cột mốc căng thẳng và giúp họ hình thành kỳ vọng thực tế. Hướng dẫn của ESHRE nhấn mạnh nhu cầu của người bệnh không chỉ là nhu cầu cảm xúc, mà còn bao gồm nhu cầu nhận thức, hành vi và mối quan hệ trong suốt quá trình điều trị [4].

Do tiếp xúc trực tiếp và lặp lại với người bệnh, nữ hộ sinh, điều dưỡng có vị trí thuận lợi để nhận diện sớm căng thẳng tâm lý. Những dấu hiệu có thể bao gồm lo lắng quá mức, khóc nhiều, im lặng bất thường, cáu gắt, né tránh trao đổi, không tuân thủ lịch điều trị hoặc bộc lộ cảm giác tuyệt vọng. Ngoài biểu hiện tức thời, điều dưỡng có thể nhận diện các nhóm nguy cơ cao như bệnh nhân thất bại HTSS nhiều lần, tuổi mẹ cao, giảm dự trữ buồng trứng, tinh trùng rất yếu, sảy thai liên tiếp, thiếu hỗ trợ từ bạn đời, áp lực tài chính hoặc áp lực gia đình… Trong mô hình chăm sóc tâm lý thường quy, nữ hộ sinh, điều dưỡng không chẩn đoán rối loạn tâm thần, mà thực hiện sàng lọc ban đầu, nhận biết nguy cơ, hỗ trợ phù hợp và chuyển tuyến khi cần thiết [4].

Hỗ trợ cảm xúc cho bệnh nhân vô sinh của nữ hộ sinh, điều dưỡng chủ yếu thuộc dạng chăm sóc tâm lý ban đầu. Các hình thức bao gồm lắng nghe không phán xét, xác nhận cảm xúc, giải thích lại thông tin khi người bệnh hoang mang, hướng dẫn họ tập trung vào bước điều trị hiện tại và giúp họ biết khi nào cần liên hệ lại với cơ sở điều trị. Đây không phải là trị liệu tâm lý chuyên sâu, nhưng có thể tạo ra khác biệt lớn trong trải nghiệm điều trị hằng ngày.

Bằng chứng hiệu quả từ các can thiệp và chăm sóc

Tổng quan hệ thống và phân tích gộp của Xu và cộng sự bao gồm 44 nghiên cứu với 5.008 phụ nữ vô sinh điều trị HTSS [1]. Các can thiệp được khảo sát rất đa dạng, từ chăm sóc điều dưỡng có mục tiêu, can thiệp khủng hoảng, quản lý căng thẳng đến các chương trình thân - tâm, chánh niệm, yoga, âm nhạc trị liệu, liệu pháp nhận thức hành vi và trị liệu nhóm. Kết quả cho thấy điểm trầm cảm và lo âu đều giảm sau can thiệp, chỉ số đo lường mức độ hiệu quả của can thiệp chung cho trầm cảm là −3,16 và cho lo âu là −1,23; phân tích dưới nhóm gợi ý can thiệp trước HTSS có thể hiệu quả hơn so với các can thiệp trong hoặc sau HTSS. Có thể nhận thấy rằng các thành phần chăm sóc do điều dưỡng tham gia hoặc điều phối có thể góp phần giảm lo âu và trầm cảm cho người bệnh nếu các can thiệp này được thiết kế đúng và triển khai đúng thời điểm trong quá trình điều trị.

Thất bại HTSS là một trong những thời điểm người bệnh dễ tổn thương nhất. Ding và cộng sự đã khảo sát 98 bệnh nhân sau thất bại HTSS và ghi nhận căng thẳng tâm lý có thể kéo dài, không chỉ giới hạn ở thời điểm vừa nhận kết quả thất bại [5]. Trong nghiên cứu này, nhóm được chăm sóc tâm lý hỗ trợ có mức lo âu và trầm cảm giảm nhiều hơn nhóm chăm sóc thường quy sau một tháng. Đồng thời, nhóm can thiệp có mức hài lòng và tuân thủ điều trị cao hơn; tỷ lệ hài lòng đạt 93,8% so với 72,0%, và tuân thủ đạt 95,8% so với 74,0% [5]. Những dữ liệu này củng cố tầm quan trọng của quy trình chăm sóc sau thất bại HTSS, trong đó nữ hộ sinh, điều dưỡng có thể theo dõi, nâng đỡ, hẹn tái tư vấn, phát hiện nguy cơ bỏ điều trị và kết nối người bệnh với bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý khi cần.

Tuân thủ điều trị trong HTSS phụ thuộc không chỉ vào chỉ định y khoa mà còn vào khả năng người bệnh hiểu quy trình, chịu đựng áp lực cảm xúc và duy trì niềm tin vào kế hoạch điều trị. Nữ hộ sinh, điều dưỡng góp phần vào việc hỗ trợ tuân thủ thông qua hướng dẫn dùng thuốc, nhắc lịch, giải thích quy trình, xử trí thắc mắc, hỗ trợ khi người bệnh lo lắng và duy trì liên lạc giữa người bệnh với cơ sở điều trị.

Yếu tố văn hóa và giới hạn chuyên môn

Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh rằng nhu cầu tâm lý của bệnh nhân chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh văn hóa, quan hệ gia đình, kỳ vọng xã hội và khả năng tiếp cận dịch vụ [3, 4, 6]. Sagheb Ray Shirazi và cộng sự cho thấy nữ hộ sinh, điều dưỡng có vai trò trong giáo dục sức khỏe, sàng lọc, phát hiện sớm và can thiệp cộng đồng nhằm phòng ngừa vô sinh và nâng cao sức khỏe sinh sản [6]. Trong thực hành, nữ hộ sinh, điều dưỡng cần bảo mật thông tin, không phán xét, tôn trọng quyền riêng tư và tránh cách giao tiếp rập khuôn, vì người bệnh ở các bối cảnh khác nhau có nhu cầu tâm lý khác nhau.

Một kết quả quan trọng của các nghiên cứu là cần phân định rõ giữa chăm sóc tâm lý tuyến đầu và trị liệu tâm lý chuyên sâu. Nữ hộ sinh, điều dưỡng có thể nhận diện, hỗ trợ, giáo dục, theo dõi và chuyển tuyến. Họ không chẩn đoán hoặc điều trị rối loạn tâm thần, mà cần chuyển tuyến kịp thời đối với những trường hợp vượt quá khả năng hỗ trợ cơ bản, bao gồm: căng thẳng tâm lý nặng, ý tưởng tự hại, xung đột gia đình nghiêm trọng, thất bại liên tiếp, sảy thai hoặc các quyết định sinh sản phức tạp.

Các nhận định liên quan và mô hình hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân của nữ hộ sinh, điều dưỡng trong HTSS

Căng thẳng tâm lý ở bệnh nhân vô sinh là một phần thường gặp của hành trình điều trị. Các tiếp xúc thường ngày như hướng dẫn dùng thuốc, nhắc lịch, chuẩn bị thủ thuật, giải thích quy trình và theo dõi sau can thiệp đều có thể trở thành cơ hội hỗ trợ tâm lý nếu nhân viên y tế được đào tạo và có quy trình phù hợp.

Một điểm cần lưu ý là hỗ trợ tâm lý nên được tích hợp từ giai đoạn trước điều trị HTSS, thay vì chỉ can thiệp khi người bệnh đã thất bại hoặc rơi vào khủng hoảng. Xu và cộng sự ghi nhận các can thiệp được triển khai trước HTSS có thể hiệu quả hơn so với can thiệp trong hoặc sau HTSS [1]. Chuẩn bị tâm lý trước điều trị có thể giúp người bệnh hiểu quy trình, có kỳ vọng thực tế, giảm cảm giác mơ hồ và tăng khả năng ứng phó với kết quả bất lợi. Trong khi đó, cách tiếp cận phản ứng, chỉ quan tâm đến tâm lý khi người bệnh đã khóc, giận dữ hoặc muốn bỏ điều trị, là quá muộn và làm chăm sóc tâm lý bị biến thành xử lý khủng hoảng.

Trong các điểm chạm lâm sàng, chăm sóc sau thất bại HTSS cần được ưu tiên. Sau kết quả âm tính, người bệnh có thể thất vọng, tự trách, giảm niềm tin, né tránh tái khám hoặc muốn dừng điều trị. Nghiên cứu của Ding và cộng sự cho thấy chăm sóc tâm lý sau thất bại HTSS có thể cải thiện nhiều kết cục sau một tháng [5]. Vì vậy, thông báo beta-hCG âm tính không nên là điểm kết thúc của chu kỳ chăm sóc, mà phải kích hoạt quy trình hỗ trợ: hướng dẫn sau khi có kết quả, hẹn tư vấn lại, giải thích bước tiếp theo, theo dõi căng thẳng tâm lý nặng và khuyến khích người bệnh không quyết định dừng điều trị trong trạng thái cảm xúc cấp tính.

Yếu tố văn hóa trong hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân cũng cần được xem xét nghiêm túc. Trong nhiều hoàn cảnh, vô sinh có thể đi kèm áp lực gia đình, kỳ vọng sinh con, mặc cảm về vai trò làm vợ hoặc làm chồng, khó nói về tình dục, lo ngại bị phán xét và sợ lộ thông tin cá nhân. Do đó, bảo mật thông tin, tôn trọng quyền riêng tư, không đổ lỗi và giao tiếp không phán xét là nguyên tắc cốt lõi. Đặc biệt, cần tránh các thông điệp làm người bệnh tự trách, chẳng hạn quy kết thất bại điều trị cho việc “căng thẳng quá” hoặc “suy nghĩ nhiều”.

Các bằng chứng hiện nay và hiệu quả hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân vô sinh vẫn có nhiều hạn chế. Các nghiên cứu không đồng nhất về loại can thiệp, thời lượng, thời điểm thực hiện, người cung cấp can thiệp và công cụ đo lường. Nhiều nghiên cứu tập trung vào phụ nữ, trong khi vô sinh thường là vấn đề của cặp đôi; vai trò hỗ trợ người chồng, giao tiếp vợ chồng hoặc căng thẳng tâm lý liên quan vô sinh nam chưa được phản ánh đầy đủ. Một số nghiên cứu đánh giá kết cục sinh sản như tỷ lệ thai lâm sàng, nhưng bằng chứng chưa đủ để khẳng định can thiệp tâm lý trực tiếp làm tăng tỷ lệ sinh sống [7, 8]. Vì vậy, nên nhấn mạnh lợi ích chắc chắn hơn ở các kết cục như giảm căng thẳng tâm lý, cải thiện sức khỏe tinh thần toàn diện, chất lượng sống, hài lòng và tuân thủ.

Từ góc độ thực hành, các trung tâm HTSS nên đưa hỗ trợ tâm lý cơ bản vào quy trình thường quy. Nữ hộ sinh, điều dưỡng cần được đào tạo về giao tiếp, nhận diện căng thẳng tâm lý, chăm sóc sau thất bại HTSS. Công cụ thực hành nên ngắn gọn và khả thi, chẳng hạn bảng kiểm nguy cơ tâm lý, kịch bản tư vấn trước điều trị, hướng dẫn chăm sóc sau beta-hCG âm tính và quy trình chuyển tuyến chuyên sâu. Hiệu quả nên được theo dõi bằng các chỉ số như sự hài lòng, tuân thủ, tỷ lệ quay lại tư vấn sau thất bại, tỷ lệ sàng lọc căng thẳng tâm lý và chuyển tuyến phù hợp.

Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào mô hình hỗ trợ tâm lý do nữ hộ sinh, điều dưỡng thực hiện trong điều kiện thực tế. Các câu hỏi cần ưu tiên gồm: can thiệp nào phù hợp nhất; thời điểm nào mang lại lợi ích lớn nhất; công cụ sàng lọc nào đơn giản nhưng đủ tin cậy và hiệu quả của chăm sóc tâm lý với tuân thủ, chất lượng sống, trải nghiệm người bệnh và quyết định tiếp tục điều trị.

Kết luận

Nữ hộ sinh, điều dưỡng giữ vai trò quan trọng trong hỗ trợ tâm lý cho người bệnh trong điều trị hỗ trợ sinh sản. Các bằng chứng hiện có cho thấy bệnh nhân vô sinh thường đối diện với lo âu, trầm cảm, căng thẳng tâm lý liên quan đến điều trị, suy giảm chất lượng sống và nguy cơ giảm tuân thủ, trong khi các can thiệp điều dưỡng hoặc chăm sóc tâm lý - xã hội có thể góp phần cải thiện nhiều kết cục này. Nữ hộ sinh, điều dưỡng thực hiện chăm sóc tâm lý tuyến đầu, bao gồm giáo dục và chuẩn bị người bệnh trước điều trị, cung cấp thông tin rõ ràng, nhận diện sớm căng thẳng tâm lý, hỗ trợ cảm xúc cơ bản, theo dõi sau các mốc điều trị, chăm sóc sau thất bại, tăng tuân thủ điều trị và chuyển tuyến khi nhu cầu vượt quá phạm vi chuyên môn. Để vai trò này thực sự hiệu quả, cần có đào tạo, công cụ thực hành, và cơ chế phối hợp liên chuyên ngành, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân hoặc sự tận tâm tự phát của từng nhân viên.

 

 

Tài liệu tham khảo

  1. Xu Q, Wan Z, Xiong Z, Zhu X, Han Q, Wang Y, Zhao J, Yu F. The effects of nursing interventions on anxiety and depression in infertile females undergoing assisted reproduction: a systematic review and meta-analysis. BMC Womens Health. 2025;25(1):607. doi:10.1186/s12905-025-04146-8.

  2. Jackson PL, Saunders P, Mizzi S, Hallam KT. The efficacy of psychological interventions for infertile women: a systematic review and meta-analysis. BMC Womens Health. 2025;25(1):506. doi:10.1186/s12905-025-04054-x.

  3. Chow KM, Cheung MC, Cheung IK. Psychosocial interventions for infertile couples: a critical review. J Clin Nurs. 2016;25:2101-2113. doi:10.1111/jocn.13361.

  4. Gameiro S, Boivin J, Dancet E, de Klerk C, Emery M, Lewis-Jones C, Thorn P, Van den Broeck U, Venetis C, Verhaak CM, Wischmann T, Vermeulen N. ESHRE guideline: routine psychosocial care in infertility and medically assisted reproduction: a guide for fertility staff. Hum Reprod. 2015;30(11):2476-2485. doi:10.1093/humrep/dev177.

  5. Ding X, Ge C, Liu J, Wang Y, Xu X. Analysis of changes in women's psychological status and nursing responses after fertility treatment failure: A retrospective cohort study. Medicine (Baltimore). 2025;104(44):e45302. doi:10.1097/MD.0000000000045302.

  6. Sagheb Ray Shirazi M, Salarkarimi F, Moghadasi F, Mahmoudikohani F, Tajik F, Bastani Nejad Z. Infertility prevention and health promotion: the role of nurses in public health initiatives. Galen Med J. 2024;13:e3534. doi:10.31661/gmj.v13i.3534.

  7. Ha JY, Park HJ, Ban SH. Efficacy of psychosocial interventions for pregnancy rates of infertile women undergoing in vitro fertilization: a systematic review and meta-analysis. J Psychosom Obstet Gynaecol. 2023;44(1):2142777. doi:10.1080/0167482X.2022.2142777.

  8. Purewal S, Chapman SCE, van den Akker OBA. A systematic review and meta-analysis of psychological predictors of successful assisted reproductive technologies. BMC Res Notes. 2017;10(1):711. doi:10.1186/s13104-017-3049-z.