Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng phổ biến tuy nhiên tỉ lệ thành công vẫn còn thấp. Theo công bố của Ishihara O và cộng sự, tỉ lệ thành công cho một chu kì chuyển phôi tươi chỉ khoảng 20,3%. Hiện nay, lựa chọn phôi chuyển chủ yếu dựa vào hình thái và động học phát triển của phôi tuy nhiên vẫn còn một số giới hạn trong cách lựa chọn này và tiêu chuẩn vàng cần có thêm trong thực hành lâm sàng là tìm ra một dấu ấn sinh học không xâm lấn thể hiện được tiềm năng làm tổ của phôi. Nhiều công bố cho thấy phức hợp tế bào hạt xung quanh noãn (CGCs) được xem như là cách tiếp cận không xâm lấn để đánh giá chất lượng noãn, tiềm năng phát triển và làm tổ của phôi.

Tuơng tác của phức hợp noãn- tế bào hạt giúp chuyển hoá carbohydrate, lipid và protein để đảm bảo cân bằng năng lượng cho quá trình giảm phân và thụ tinh của noãn cũng như hỗ trợ cho giai đoạn hình thành phôi sớm và ti thể trong CGCs được xem như là tác nhân trung tâm trong con đường trao đổi năng lượng có liên quan trực tiếp đến việc cải thiện tiềm năng của noãn trong quá trình sinh noãn. Như vậy, nghiên cứu về ti thể trong CGCs sẽ là một phương tiện đầy hứa hẹn để đánh giá chất lượng noãn bào. Đã có nhiều công bố cho thấy số lượng bản sao của DNA ti thể (mtDNA) trong CGCs được xem như là một yếu tố tốt để dự đoán chất lượng phôi trong IVF. A. Taugourdeau và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu trước đó và kết quả chỉ ra rằng có mối liên kết mật thiết giữa số lượng mtDNA trong CGCs xung quanh noãn và chất lượng phôi. Tuy nhiên vì mục tiêu cuối cùng là lựa chọn phôi có tiềm năng làm tổ tốt nhất và phát triển thành thai nên A. Taugourdeau và cộng sự tiếp tục thực hiện thêm nghiên cứu này nhằm đánh giá mối liên kết giữa số lượng mtDNA trong CGCs xung quanh noãn với khả năng làm tổ và phát triển lên thai diễn tiến của phôi.

Nghiên cứu trên 71 bệnh nhân thực hiện IVF/ICSI chuyển đơn phôi từ tháng 4/2017 đến tháng 4/2018. Nhóm tác giả thu nhận các khối CGCs, nuôi cấy và phân tích DNA để xác định số lượng mtDNA rồi so sánh khả năng làm tổ của phôi.

Kết quả nghiên cứu cho thấy so với nhóm phôi không làm tổ, nhóm phôi làm tổ có số lượng bản sao mtDN trong CGCs cao hơn đáng kể và không có sự khác biệt nào về các đặc điểm bệnh nhân ở hai nhóm này.
Như vậy theo nghiên cứu này, mtDNA đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán khả năng làm tổ của phôi, góp phần cung cấp thêm một công cụ đánh giá phôi không xâm lấn cho thực hành lâm sàng.

Lê Thị Bích Phượng- Chuyên viên phôi học- IVFMD Phú Nhuận
Nguồn: The mitochondrial DNA content of cumulus cells may help predict embryo implantation. Journal of Assisted Reproduction and Genetics. doi.org/10.1007/s10815-018-1348-5