Hệ thống nuôi cấy phôi kết hợp với camera quan sát liên tục (TLM) đã cho phép phân tích các mốc thời điểm phân chia tế bào và phát triển của phôi tiền làm tổ. Mặc dù hiệu quả lâm sàng của những dữ liệu này vẫn còn gây tranh cãi, những mốc thời điểm này có thể đóng vai trò là dấu hiệu đánh giá chất lượng và khả năng tồn tại của phôi. Bốn nghiên cứu đã được thực hiện trên bệnh nhân PCOS điều trị IVF sử dụng TLM đưa ra các kết luận trái ngược nhau. Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu này được thực hiện để làm sáng tỏ ảnh hưởng của PCOS đối với chất lượng phôi vì nó liên quan đến sự phát triển của phôi tiền làm tổ và kết quả mang thai. Các phôi sẽ được nuôi cấy TLM để điều tra xem liệu động học hình thái của phôi từ bệnh nhân PCOS (64 bệnh nhân, 990 phôi) có khác với phôi của một nhóm đối chứng (64 bệnh nhân, 628 phôi) theo độ tuổi và chỉ số khối cơ thể (BMI) hay không. Kết cục chính là thời điểm phôi nang (tB), và các thông số động học khác: thời điểm xuất hiện tiền nhân (tPNa), biến mất tiền nhân (tPNf), thời điểm 2, 3, 4,…9 phôi bào (t2, t3, t4,…t9), phôi bắt đầu nén hình thành phôi dâu (tM), bắt đầu có khoang phôi (tSB).
Kết quả thu được là:
- Phôi từ bệnh nhân PCOS phát triển nhanh hơn ở t7, t8, t9 so với đối chứng, còn những thông số còn lại thì giống nhau.
- Bệnh nhân PCOS cũng có số noãn chọc hút nhiều hơn nhưng tỉ lệ thụ tinh và tỉ lệ tạo thành phôi nang không khác biệt so với đối chứng.
- Bệnh nhân PCOS có tỉ lệ sẩy thai cao hơn (38,1% so với 18.8% đối chứng).
- Phôi của các bệnh nhân PCOS cường androgen phát triển nhanh hơn ở t5, t6, t7, t8, t9 và tM
Nguồn: Embryos from polycystic ovary syndrome patients with hyperandrogenemia reach morula stage faster than controls. Fertility and Sterility, 2020, https://doi.org/10.1016/j.xfre.2020.05.006