CNSH. Trần Như Uyên – IVFVH
 
  1. Giới thiệu
Đại dịch COVID-19 đã gây ra những lo ngại về tác động của nó đối với khả năng sinh sản của con người. Các nghiên cứu chỉ ra phụ nữ bị nhiễm SARS- CoV- 2 có thể gặp phải những thay đổi về chu kỳ kinh nguyệt, thời gian chu kỳ và lượng máu chảy ra. Các nghiên cứu theo dõi về những người sống sót sau COVID-19 trong hai năm qua không tìm thấy tác động đến tuyến giáp mặc dù có khả năng gây viêm tuyến giáp bán cấp và các rối loạn tự miễn dịch. Hơn nữa, sự gián đoạn nồng độ hormone vùng dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng do nhiễm COVID-19 có thể làm tăng nguy cơ vô sinh hoặc hiếm muộn.
Bên cạnh đó, có nhiều tranh luận về tác động của COVID-19 đến dự trữ buồng trứng, chức năng buồng trứng và các thông số về dịch nang noãn. Một số nghiên cứu cho thấy COVID-19 có thể ảnh hưởng xấu đến chức năng buồng trứng ở phụ nữ, dẫn đến giảm dự trữ buồng trứng và rối loạn nội tiết sinh sản. Ngoài ra, những nghiên cứu khác chỉ ra rằng COVID-19 không ảnh hưởng đến buồng trứng làm tăng thêm sự phức tạp về tác động của virus đối với khả năng sinh sản của phụ nữ. Vì vậy, nghiên cứu này thực hiện nhằm kiểm tra tác động tiềm ẩn của SARS-Cov-2 đối với khả năng sinh sản của phụ nữ.
 
  1. Phương pháp
Nghiên cứu thực hiện trên những bệnh nhân trải qua quá trình chọc hút noãn nhiều lần trước và sau khi bị nhiễm SARS-Cov-2. Để giảm thiểu tác động của độ tuổi lên kết quả, nếu bệnh nhân trải qua nhiều chu kỳ điều trị, nghiên cứu chọn chu kỳ điều trị gần nhất trước khi nhiễm. Để duy trì tính nhất quán trong các phác đồ kích thích buồng trứng có kiểm soát (COS) và độ tuổi giữa hai chu kỳ, nghiên cứu đã tiến hành phân tích sâu hơn. Chỉ những bệnh nhân không có triệu chứng hoặc có triệu chứng nhẹ mới được đưa vào nghiên cứu. Các kết quả chính tập trung vào AMH, AFC và tỷ lệ thụ tinh 2PN.
 
  1. Kết quả
Khả năng sinh sản của phụ nữ trước và sau khi nhiễm SARS-Cov-2
  • Không có sự khác biệt đáng kể về dự trữ buồng trứng bao gồm các chỉ số (FSH, LH, E2, AMH và AFC), chỉ số đáp ứng buồng trứng bao gồm (tổng liều Gn, số nang ≥14 mm và số lượng noãn thu được) và các kết quả phôi học bao gồm (tỷ lệ hình thành phôi nang, phôi tốt giai đoạn phân chia)
  • Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa nhóm trước và sau khi nhiễm SARS–Cov-2 về: thời gian dùng liều Gn ở nhóm trước nhiễm (8,69±2,03 ngày) so với nhóm sau nhiễm (9,07±1,88 ngày), p=0,027; tỷ lệ noãn MII (75,8% so với 85,4%, p<0,001), tỷ lệ thụ tinh 2PN (50% so với 62,6%, p<0,001) và tỷ lệ phôi nang có chất lượng tốt (14,5% so với 21%, p<0,001).
Khả năng sinh sản của phụ nữ trước và sau khi nhiễm SARS-Cov-2 theo phác đồ COS và tuổi.
Chỉ thực hiện nghiên cứu những bệnh nhân ≥35 tuổi
  • Không có sự khác biệt đáng kể về nồng độ FSH, LH, E2 và AMH, cũng như AFC cho dự trữ buồng trứng, tổng liều Gn, thời gian dùng Gn, số lượng nang noãn ≥14mm và số lượng noãn chọc hút được
  • Tuy nhiên, có sự khác biệt giũa trước và sau khi nhiễm SARS-Cov-2 ở tỷ lệ noãn MII (80% so với 84,8%, p=0,06), tỷ lệ thụ tinh 2PN (53% so với 61,9%, p<0,001) và tỷ lệ phôi nang có chất lượng tốt (14,7% so với 20%, p=0.023).
  •  
  1. Kết luận
Việc trải qua điều trị IVF/ ICSI sau COVID-19 có thể không ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản của phụ nữ. Mặc dù kết quả nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết có giá trị để giải quyết các mối quan tâm hiện tại nhưng cần nghiên cứu thêm để hiểu đầy đủ tác động chính xác của COVID-19 đối với kết quả hỗ trợ sinh sản và cung cấp thông tin lâm sàng về vấn đề này.
 
Nguồn: Yu- Ling Hu, Yong-Jia Zhang, Xing-Yu Lv et al. Impact of Omicron variant Infection on Female Fertility and Laboratory Outcomes: A Self-Controlled Study. Am J Reprod Immunol 2024 Nov;92(5):e70012. doi: 10.1111/aji.70012.