CNSH. Võ Minh Tuấn – IVFMD Tân Bình

Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (Intracytoplasmic Sperm Injection) trong thụ tinh trong ống nghiệm ngày càng được sử dụng rộng rãi, chiếm khoảng 70-80% số chu kỳ hỗ trợ sinh sản. Việc sử dụng phổ biến kỹ thuật này, thậm chí là vượt quá chỉ định khi tinh trùng hoàn toàn bình thường, một phần là do tính chuẩn hoá của kỹ thuật đã đạt đến mức độ rất cao. Khi thực hiện ICSI thông thường (c - ICSI), kim tiêm sẽ được đưa qua màng trong suốt, đi vào khoang quanh noãn và vào màng bào tương, sau đó tinh trùng được nhả ra khỏi kim và đặt vào trong bào tương. Quy trình này phụ thuộc rất lớn vào kỹ năng của người thực hiện, do vậy cần phải thực tập nhiều mới đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Và để thực tập nhiều thì cần nhiều noãn người để thực hiện, do vậy đặt ra câu hỏi về khía cạnh đạo đức. Piezo ‐ ICSI là kỹ thuật giúp giảm đáng kể áp suất vật lý lên màng plasma thông qua hệ thống áp điện. Kimura và Yanagimachi báo cáo rằng Piezo ‐ ICSI đã cải thiện tỷ lệ sống sót lên tới 80% ở tế bào noãn chuột với tỷ lệ thụ tinh 78%. Yanagida và cộng sự đã áp dụng Piezo ‐ ICSI cho noãn người và có tỷ lệ sống được cải thiện (89% so với 81%) và tỷ lệ thụ tinh (70% so với 54%) so với c ‐ ICSI. Mặc dù Piezo ‐ ICSI dự kiến sẽ cải thiện kết quả, hiện nay các nghiên cứu đánh giá hiệu quả Piezo – ICSI đến kết quả lâm sàng vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này của Yoshitaka Fujii và cộng sự (2020) nhằm đánh giá ảnh hưởng của Piezo – ICSI đối với kết quả labo, lâm sàng và kết quả sơ sinh.

Đây là nghiên cứu hồi cứu dựa trên dữ liệu thu thập từ 2011 đến năm 2016. Tổng cộng có 1348 noãn trưởng thành từ 145 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, chia làm hai nhóm: nhóm ICSI thông thường (c – ICSI, n=70), nhóm ICSI hỗ trợ piezo (P – ICSI, n=75). Các kết quả về tỉ lệ thai lâm sàng, trẻ sinh sống được so sánh giữa hai nhóm, ngoài ra các kết quả về tỉ lệ thụ tinh, tỉ lệ sống sau ICSI cũng được ghi nhận.

Kết quả: khi so sánh với nhóm c – ICSI, nhóm P – ICSI cho thấy cải thiện đáng kể tỉ lệ thụ tinh (83,5% so với 70,6%, P <0,001) và tỉ lệ sống sau ICSI (97,0% so với 94,1%, P<0,1). Tuy nhiên, không có sự khác biệt về tỉ lệ phát triển phôi nang (42,7% so với 37,1%), tỉ lệ phôi làm tổ (23,2% so với 30,6%), tỉ lệ thai lâm sàng (25,4% so với 32,1%). Đối với các kết quả sơ sinh gồm tuổi thai, cân nặng sơ sinh, tỉ lệ mổ lấy thai và các bất thường bẩm sinh ở hai nhóm cũng không có sự khác biệt.

Như vậy, nghiên cứu cho thấy ICSI với sự hỗ trợ của Piezo đã cải thiện khả năng thụ tinh và tỉ lệ sống sót sau ICSI khi so sánh với c – ICSI. Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong bất kỳ kết quả lâm sàng và sơ sinh nào được đánh giá ở hai nhóm P – ICSI và c – ICSI.
 
Nguồn:
Fujii, Y., Endo, Y., Mitsuhata, S., Hayashi, M., & Motoyama, H. (2020). Evaluation of the effect of piezo‐intracytoplasmic sperm injection on the laboratory, clinical, and neonatal outcomes. Reproductive medicine and biology19(2), 198-205.