Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh TPHCM
HOSREM - Ho Chi Minh City Society for Reproductive Medicine

Tin chuyên ngành
on Friday 01-10-2021 10:37pm
Viết bởi: Khoa Pham
NHS. HOÀNG THU NGÂN – IVFMD TÂN BÌNH

Nội mạc tử cung (Endometrium, NMTC) có vai trò đặc biệt trong hệ sinh sản nữ, trong đó giúp (1) chuẩn bị cho sự làm tổ của phôi, (2) nuôi dưỡng thai kỳ và (3) tạo ra hiện tượng hành kinh nếu không có thai. Độ dày NMTC tối ưu để chuyển phôi (CP) và ngưỡng giới hạn dưới của độ dày NMTC phù hợp để quyết định CP hay huỷ chu kỳ hiện vẫn còn là một dấu hỏi lớn trong y văn với những dữ kiện rải rác và chưa nhất quán.
 
Bằng chứng mới công bố gần đây nhất của Bahar và cộng sự trên tạp chí Fertility & Sterility (06/2021), kết luận rằng độ dày NMTC không phải là một yếu tố tiên lượng cho kết cục tỷ lệ trẻ sinh sống trong các chu kỳ CP tươi/CP trữ. Đây là một nghiên cứu hồi cứu thực hiện tại Đơn vị hỗ trợ sinh sản của Bệnh viện đại học Koç (Thổ Nhĩ Kỳ) từ tháng 10/2016 đến 8/2019 trên nhóm phụ nữ CP tươi hoặc CP trữ (giai đoạn phôi nang) với kế hoạch CP không phụ thuộc vào độ dày NMTC với kết cục chính là tỷ lệ trẻ sinh sống. Tất cả phụ nữ được thực hiện siêu âm đầu dò âm đạo ba chiều (3-dimensional transvaginal ultrasound scan – 3D TVUS) để đánh giá tình trạng hiếm muộn và loại trừ các yếu tố từ tử cung. Các chu kỳ CP tươi được thực hiện khi có hình ảnh NMTC dạng ba lá vào ngày khởi động trưởng thành noãn mà không xét đến tiêu chí về độ dày NMTC. Trữ phôi toàn bộ và CP trữ khi có một trong số các tiêu chuẩn sau (a) nồng độ progesterone huyết thanh > 1,5 mg/M vào ngày khởi động trưởng thành noãn, (b) số cụm noãn chọc hút được hơn 15, (c) theo dõi phôi chậm ngày 5, (d) nghi ngờ polyp lòng tử cung, (e) trữ phôi tích luỹ hoặc trữ noãn tích luỹ. Khi thực hiện chu kỳ CP trữ, phác đồ steroid ngoại sinh được sử dụng và việc lên lịch CP trữ tuỳ thuộc vào hình ảnh NMTC dạng ba lá mà không xét đến độ dày NMTC. Nếu NMTC không có hình ảnh dạng ba lá hoặc nghi ngờ hiện tượng thoát ức chế xảy ra, xét nghiệm Progesterone huyết thanh được thực hiện (huỷ chu kỳ nếu giá trị ≥ 1 ng/mL).
 
Tổng cộng có 560 chu kỳ CP trong đó, 273 chu kỳ CP tươi và 287 chu kỳ CP trữ. Trong nhóm CP tươi, nhóm phụ nữ có trẻ sinh sống và nhóm không có trẻ sinh sống không ghi nhận sự khác biệt về độ dày NMTC có ý nghĩa thống kê (lần lượt 10,5 mm; 9 mm; P = 0,11). Tương tự đối với các chu kỳ CP trữ (lần lượt 8,4 mm; 9 mm; P = 0,38). Độ dày NMTC không có mối liên hệ với tỷ lệ trẻ sinh sống và tỷ lệ sẩy thai ở cả các chu kỳ CP tươi (P = 0,38 và 0,09) và cả các chu kỳ CP trữ (P = 0,31 và 0,7). Diện tích dưới đường cong của độ dày NMTC dự đoán kết cục trẻ sinh sống ở các chu kỳ CP tươi, CP trữ và CP nói chung lần lượt là 0,56; 0,47 và 0,52. Do vậy, có thể nói độ dày NMTC dường như không có khả năng tiên lượng cho kết cục trẻ sinh sống ở cả hai nhóm CP tươi và CP trữ [1].
 
Trước đây, một phân tích tổng hợp gồm 22 nghiên cứu của Kasius và cộng sự (2014) về mối liên quan giữa độ dày NMTC và kết quả thụ tinh ống nghiệm đã chứng minh không có mối liên quan giữa độ dày NMTC và tỷ lệ thai lâm sàng sau CP (OR 0,38, KTC 95% 0,09-1,54). Tác giả cũng lưu ý rằng việc sử dụng ngưỡng cut-off NMTC dưới 7 mm có thể liên quan đến khả năng có thai thấp hơn, nhưng độ tin cậy của tiên lượng này không cao. Do đó, nghiên cứu không khuyến khích việc sử dụng độ dày NMTC để đưa ra quyết định huỷ chu kỳ, trữ phôi toàn bộ hoặc ngưng điều trị IVF [2].
 
Sau đó, một nghiên cứu hồi cứu lớn nhất trong lịch sử, khảo sát về độ dày NMTC trên 44.000 chu kỳ CP của Liu và cộng sự (2018) tại Canada đã chứng minh điều ngược lại khi chỉ ra một mối quan hệ tuyến tính giữa độ dày NMTC và tỷ lệ trẻ sinh sống. Trong các chu kỳ CP tươi, tỷ lệ mang thai lâm sàng và trẻ sinh sống giảm (P < 0,001) và tỷ lệ sẩy thai tăng (P = 0,01) với độ dày NMTC giảm dần dưới 8 mm. Tỷ lệ sinh sống đối với NMTC ≥ 8mm; 7-7,9 mm; 6-6,9 mm và 5-5,9 mm lần lượt là 33,7%; 25,5%; 24,6% và 18,1%. Đối với những chu kỳ CP đông lạnh, tỷ lệ mang thai lâm sàng (P = 0,007), tỷ lệ trẻ sinh sống giảm (P = 0,002) khi độ dày NMTC giảm dần dưới 7 mm và không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ sẩy thai. Tuy nhiên, đáng chú ý rằng cũng trong nghiên cứu này, có 6 trường hợp trong tổng số 29 trường hợp với độ dày NMTC dưới 5 mm vẫn đạt kết cục có thai lâm sàng (chiếm tỷ lệ 20%) [3].
 
Vào năm 2000, De Geyter và cộng sự phân tích mối tương quan giữa độ dày NMTC và tỷ lệ thai lâm sàng trong 1061 chu kỳ thụ tinh ống nghiệm, tỷ lệ thành công tương tự cho bất kỳ độ dày NMTC và khuyến cáo không nên hủy chu kỳ CP chỉ dựa trên độ dày NMTC [4].
 
Ngoài ra, Eva R. Groenewoud và cộng sự (2018) phân tích dữ liệu từ 463 phụ nữ trải qua chu kỳ tự nhiên cải biên, kết quả ở phụ nữ có thai và không có thai có ý nghĩa tương tự với độ dày NMTC là 9 mm và 8,8 mm (P = 0,04), ngụ ý rằng độ dày NMTC không dự đoán kết quả thai kỳ [5].
 
Dain và cộng sự (2013) đã phân tích 737 chu kỳ cho noãn và nghiên cứu về mối liên quan của độ dày NMTC của người nhận noãn có liên quan đến tỷ lệ thai sinh sống với ngưỡng độ dày NMTC là 6 mm. Kết quả cho thấy phụ nữ NMTC < 6 mm có tỷ lệ trẻ sinh sống 16,7% và phụ nữ NMTC > 6 mm có tỷ lệ trẻ sinh sống là 16,1% [6].
 
Từ những bằng chứng y văn trên, có thể kết luận một cách hợp lý rằng ở những phụ nữ trẻ và chỉ số khối cơ thể (BMI) bình thường, NMTC có dạng ba lá với độ dày NMTC > 5mm và không có chống chỉ định CP thì thủ thuật CP nên được tiếp tục thực hiện và độ dày NMTC dưới mức tối ưu không có khả năng làm giảm đáng kể tỷ lệ sinh sống (mức khuyến cáo mạnh). Điều này đặc biệt đúng khi không có can thiệp rõ ràng, sẵn có để cải thiện độ dày NMTC, khi có nhiều phôi nang đạt chất lượng tốt và chuyển phôi cho người mang thai hộ không phải là sự lựa chọn thay thế [7].
 
Ưu điểm của nghiên cứu Bahar và cộng sự (2021) nằm ở thiết kế nghiên cứu độc đáo. Nhóm tác giả quyết định CP không dựa vào độ dày NMTC, do đó, khảo sát đầy đủ kết cục điều trị ở những trường hợp NMTC mỏng. Cụ thể, có 27% trường hợp được CP khi NMTC dưới 8 mm, so sánh với các nghiên cứu khác chỉ khoảng 12-14% [1]. Tuy vậy, như với bất kỳ nghiên cứu hồi cứu đơn trung tâm nào, nghiên cứu này bị hạn chế khả năng khái quát hóa. Hơn nữa, mẫu nghiên cứu là ở phụ nữ trẻ (34 tuổi), gầy (BMI trung bình = 24,5 kg/m2). Mặc dù, nghiên cứu đã thành công trong việc giảm thiểu sai lệch so với các công bố trước đây nhưng vẫn bị hạn chế vì kích thước mẫu tương đối nhỏ. Chỉ 18 (3%) trong số 560 trường hợp chuyển dạ xảy ra khi NMTC < 6 mm, 18 trường hợp chuyển phôi có tỷ lệ sinh sống giống với tỷ lệ sinh sống trong đoàn hệ chung là 33%. Năm mươi bảy (10%) trong 560 ca chuyển dạ khi NMTC < 7 mm và cũng mang lại tỷ lệ sinh sống là 33%. Không có trường hợp nào sinh sống trong 3 bệnh nhân có NMTC < 5 mm [1]. Có thể nói rằng tỷ lệ sinh sống ở những đối tượng có NMTC mỏng tương tự như trong nhóm dân số chung. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý về độ mạnh của kết luận này khi áp dụng trên lâm sàng, do đây là nghiên cứu có kích thước mẫu còn nhỏ.
 
Như vậy, độ dày NMTC không dự đoán tỷ lệ trẻ sinh sống của chu kỳ CP tươi hay trữ. Không nên trì hoãn hoặc hủy chu kỳ chuyển phôi với bất kỳ độ dày NMTC, thay vào đó nên chuyển chú ý đến việc cải thiện sức khỏe chu sinh và sử dụng phác đồ chuẩn bị NMTC phù hợp để mang lại một thai kỳ khỏe mạnh và an vui.
 
Tài liệu tham khảo:
[1] Shakerian B, Turkgeldi E, Yildiz S, Keles I, Ata B. Endometrial thickness is not predictive for live birth after embryo transfer, even without a cutoff. Fertil Steril. 2021 Jul;116(1):130-137. Doi: 10.1016/j.fertnstert.2021.02.041. Epub 2021 Mar 31. PMID: 33812651.
[2] Kasius A, Smit JG, Torrance HL, Eijkemans MJ, Mol BW, Opmeer BC, Broekmans FJ. Endometrial thickness and pregnancy rates after IVF: a systematic review and meta-analysis. Hum Reprod Update. 2014 Jul-Aug;20(4):530-41. doi: 10.1093/humupd/dmu011. Epub 2014 Mar 23. PMID: 24664156.
[3] Liu KE, Hartman M, Hartman A, Luo ZC, Mahutte N. The impact of a thin endometrial lining on fresh and frozen-thaw IVF outcomes: an analysis of over 40 000 embryo transfers. Hum Reprod. 2018 Oct 1;33(10):1883-1888. doi: 10.1093/humrep/dey281. PMID: 30239738; PMCID: PMC6145412.
[4] De Geyter C, Schmitter M, De Geyter M, Nieschlag E, Holzgreve W, Schneider HP. Prospective evaluation of the ultrasound appearance of the endometrium in a cohort of 1,186 infertile women. Fertil Steril. 2000 Jan;73(1):106-13. doi: 10.1016/s0015-0282(99)00484-7. PMID: 10632422.
[5] Groenewoud ER, Cohlen BJ, Al-Oraiby A, Brinkhuis EA, Broekmans FJM, de Bruin JP, van Dool G, Fleisher K, Friederich J, Goddijn M, Hoek A, Hoozemans DA, Kaaijk EM, Koks CAM, Laven JSE, van der Linden PJQ, Manger AP, van Rumste M, Spinder T, Macklon NS. Influence of endometrial thickness on pregnancy rates in modified natural cycle frozen-thawed embryo transfer. Acta Obstet Gynecol Scand. 2018 Jul;97(7):808-815. doi: 10.1111/aogs.13349. Epub 2018 Apr 24. PMID: 29582411.
[6] Dain L, Bider D, Levron J, Zinchenko V, Westler S, Dirnfeld M. Thin endometrium in donor oocyte recipients: enigma or obstacle for implantation? Fertil Steril. 2013 Nov;100(5):1289-95. doi: 10.1016/j.fertnstert.2013.07.1966. Epub 2013 Aug 15. PMID: 23954352.
[7] Stentz N, Devine K. Through thick and thin: time to stop worrying about endometrial thickness? Fertil Steril. 2021 Jul;116(1):71-72. doi: 10.1016/j.fertnstert.2021.05.072. Epub 2021 May 26. PMID: 34052013.


Các tin khác cùng chuyên mục:
Herpes sinh dục trong thai kỳ - Ngày đăng: 26-03-2021
Tiêm chủng và thai kỳ - Ngày đăng: 19-11-2020
Suy giáp và thai kỳ - Ngày đăng: 19-11-2020
Chảy máu cam trong thai kỳ - Ngày đăng: 25-09-2020
Táo bón trong thai kỳ - Ngày đăng: 22-06-2020
Toxoplasmosis và thai kỳ - Ngày đăng: 22-01-2020
TIN CẬP NHẬT
TIN CHUYÊN NGÀNH
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020

Saturday and Sunday, 2 - 3 October 2021 3PM - 6.30PM BST (5PM – 8.30PM GMT+8)

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI

Sách được phát hành tại HOSREM từ 08.10.2021

Mời gửi bài tham gia sách Sản Phụ khoa - Từ bằng chứng đến ...

Mời tham gia gửi bài cho Tạp chí Phụ sản, dự kiến ra tháng ...

ĐỐI TÁC
FACEBOOK