Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh TPHCM
HOSREM - Ho Chi Minh City Society for Reproductive Medicine

Tin tức
on Thursday 19-11-2020 4:49pm
Viết bởi: Administrator
Danh mục: Tin quốc tế

CVPH TRƯƠNG VĂN HẢI - IVFMĐ TÂN BÌNH
 
Hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) là một rối loạn nội tiết thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, 80-95% trường hợp vô sinh khi bị PCOS (Broughton và cs, 2017). Bên cạnh đó, tình trạng thừa cân, béo phì cũng đang ngày càng phổ biến trong cộng đồng nói chung và phụ nữ nói riêng. Theo ước tính, 40-70% phụ nữ bị PCOS cũng bị thừa cân hoặc béo phì, và tỷ lệ PCOS ở phụ nữ béo phì cao gấp 4 lần phụ nữ có cân nặng bình thường (Álvarez-Blasco và cs, 2016). Ngày càng có nhiều phụ nữ PCOS được điều trị hỗ trợ sinh sản (ART). Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của thừa cân và béo phì đối với kết quả sinh sản của phụ nữ PCOS trải qua thụ tinh trong ống nghiệm / tiêm tinh trùng vào bào tương noãn - chuyển phôi (IVF / ICSI-ET) đã đưa ra những kết quả trái ngược nhau. Sự khác biệt giữa các nghiên cứu này có thể là do nhiều yếu tố, bao gồm kích thước mẫu hạn chế, sự khác biệt về chủng tộc và các biến thể trong quy trình kích thích buồng trứng.

Nghiên cứu hồi cứu này được thực hiện từ 1/2013-1/2018, nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa chỉ số khối cơ thể (BMI) và kết quả IVF / ICSI-ET ở phụ nữ PCOS điều trị bằng phác đồ kích thích buồng trứng siêu dài. Nghiên cứu thực hiện trên các phụ nữ ≤35 tuổi, bao gồm 1782 người chia làm 4 nhóm: 42 người nhẹ cân, 742 người thừa cân, 198 người béo phì và 800 người cân nặng bình thường. Các kết quả được phân tích bao gồm: thời gian và liều lượng gonadotropin, số lượng trứng thu nhận, tỷ lệ làm tổ của phôi, tỷ lệ có thai lâm sàng, tỷ lệ sinh đủ tháng, tỷ lệ trẻ sinh sống, tỷ lệ sẩy thai.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy:
  • Liều lượng, thời gian sử dụng gonadotropin giữa nhóm nhẹ cân/cân nặng bình thường (1950-2175 UI, thời gian trung bình 12 ngày) thấp hơn đáng kể so với nhóm thừa cân/béo phì (2637-3375 UI, thời gian trung bình 13 ngày).
  • Số lượng noãn thu nhận được ở nhóm nhẹ cân/cân nặng bình thường (18,2-19,6 noãn) cao hơn so với nhóm thừa cân/béo phì (14,95-16,71 noãn).
  • Số phôi tốt để chuyển phôi ở nhóm nhẹ cân/cân nặng bình thường (5,75-5,81 phôi cao hơn so với nhóm thừa cân/béo phì (4,48-5,01 phôi).
  • Tỷ lệ thai lâm sàng ở nhóm nhẹ cân/cân nặng bình thường (63,6%-71,4%) cao hơn đáng kể so với nhóm thừa cân, béo phì (66,6%-66,9%). Ngược lại, tỷ lệ sẩy thai, ở nhóm nhẹ cân/cân nặng bình thường (21,3%) thấp hơn đáng kể so với nhóm thừa cân, béo phì (34,3%).
  • Không có sự khác biệt thống kê giữa 4 nhóm về tỷ lệ cấy phôi, tỷ lệ sinh sống, tỷ lệ sinh đôi, tỷ lệ sinh đơn, tỷ lệ sinh non, sinh đủ tháng và tỷ lệ thai ngoài tử cung.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa kết quả điều trị hỗ trợ sinh sản kém ở nhóm bệnh nhân PCOS <35 tuổi được điều trị bằng phác đồ kích thích buồng trứng siêu dài và chỉ số khối phản ánh cân nặng của cơ thể. Những phụ nữ mắc PCOS có chỉ số cân nặng cao có thể gặp một số bất lợi trong quá trình điều trị. Do đó, trước và trong quá trình điều trị hỗ trợ sinh sản, bác sĩ và chuyên viên phôi học nên đưa ra lời khuyên khuyến khích bệnh nhân giảm cân, có chế độ tập luyện và ăn uống hợp lý.

Nguồn: BioMed Research International. Han Zhou, Dan Zhang, Zhuoye Luo, Aimin Yang, Na Cui, Guimin Hao and Wei Wang. “Association between Body Mass Index and Reproductive Outcome in Women with Polycystic Ovary Syndrome Receiving IVF/ICSI-ET” (2020).
Các tin khác cùng chuyên mục:
TIN CẬP NHẬT
TIN CHUYÊN NGÀNH
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020

BVĐK Phương Chi, Thứ bảy ngày 27 tháng 03 năm 2021

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI
ĐỐI TÁC
FACEBOOK