Hội Nội tiết sinh sản và Vô sinh TPHCM
HOSREM - Ho Chi Minh City Society for Reproductive Medicine

Tin tức
on Friday 19-02-2021 9:45am
Viết bởi: Khoa Pham
Danh mục: Tin quốc tế
ThS. Lâm Thị Mỹ Hậu
Chuyên viên phôi học
Đơn vị Hỗ trợ sinh sản Olea Fertility, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park


Lớp tế bào lá nuôi phôi (trophectoderm - TE) đóng vai trò như một hàng rào bao quanh phôi nang và điều hòa sự trao đổi cũng như tích lũy các phân tử nhỏ hoặc dịch nang trong quá trình hình thành khoang phôi. Việc sinh thiết TE làm thay đổi tính toàn vẹn của các cầu nối chặt (tight junction) và gây ra sự thay đổi hình thái phôi (phá vỡ khoang phôi hay mất tế bào) do áp lực giảm. Phôi sau sinh thiết thường được tiến hành đông lạnh ngay lập tức, do đó không thể đánh giá sự hồi phục khoang phôi. Trong khi đó, đây là một chỉ số quan trọng về tình trạng phôi và có thể ảnh hưởng đến kết cục của chu kỳ điều trị.

Chen và cộng sự đã tiến hành hồi cứu dữ liệu từ tháng 12/2012 đến tháng 05/2015 của các chu kỳ điều trị có tiến hành sinh thiết và chuyển phôi trữ sau sinh thiết. Dữ liệu được thu thập trên 1329 phôi nang từ 223 bệnh nhân. Các phôi nang chất lượng tốt được sinh thiết và trữ lạnh lại trong vòng 0,5-6 giờ, bao gồm 2 nhóm nuôi cấy dưới 3 giờ và trên 3 giờ. Tại thời điểm trữ phôi, độ hồi phục khoang phôi cũng được đánh giá và chia thành 3 nhóm với 3 cấp độ:

1. Khoang phôi không hồi phục (collapsed blastocysts - CB)

2. Khoang phôi hồi phục 3/4 nhưng không hoàn toàn (re-expansion - RE)

3. Khoang phôi hồi phục hoàn toàn hoặc phôi thoát màng (full re-expansion - FE)

Chỉ các phôi có bộ nhiễm sắc thể lưỡng bội bình thường mới được sử dụng cho chu kỳ chuyển phôi trữ ngay sau đó.

Kết quả:
- Về tương quan độ nở rộng khoang phôi và thời gian nuôi cấy sau sinh thiết: Tỷ lệ phôi hồi phục khoang 3/4 và hồi phục hoàn toàn tăng rõ rệt sau khi được nuôi cấy trên 3 giờ (96,5%) so với các nhóm được nuôi cấy với thời gian ngắn hơn.

- Về tương quan tỷ lệ làm tổ của phôi và tỷ lệ thai với thời gian nuôi cấy: nhóm phôi được nuôi cấy trên 3 giờ sau sinh thiết có tỷ lệ làm tổ (IR), tỷ lệ thai lâm sàng (CPR) và thai diễn tiến (OPR) cao hơn đáng kể so với nhóm phôi được nuôi cấy dưới 3 giờ lần lượt là 63,1%, 73,7%, 67,0%, so với 47,8%, 54,5% và 50,0%.

- Giữa 4 nhóm: phôi CB với thời gian nuôi cấy dưới 3 giờ (nhóm 1), phôi RE và FE nuôi cấy dưới 3 giờ (nhóm 2), phôi CB với thời gian nuôi cấy trên 3 giờ (nhóm 3) và phôi RE/FE nuôi cấy trên 3 giờ (nhóm 4). Nhóm 4 có tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ thai diễn tiến cao hơn hẳn so với nhóm 1 (lần lượt là 63,7%, 74,0%, 67,1% so với 45,3%, 50,0% và 41,2%).

Như vậy, các phôi sau sinh thiết có thể cần tối thiểu 3 giờ nuôi cấy ổn định trước khi bước vào quy trình đông lạnh và sử dụng các phôi có sự hồi phục 3/4 hoặc hoàn toàn khoang phôi giúp cải thiện kết cục lâm sàng trong các chu kỳ điều trị chuyển phôi trữ sau xét nghiệm di truyền tiền làm tổ.

Nguồn: Chen H-H, Huang C-C, Cheng E-H, Lee T- H, Chien L-F, Lee M-S (2017). Optimal timing of blastocyst vitrification after trophectoderm biopsy for preimplantation genetic screening. PLoS ONE 12(10): e0185747. https://doi.org/10.1371/journal. pone.0185747

Các tin khác cùng chuyên mục:
HPV và nguy cơ vô sinh ở nữ giới? - Ngày đăng: 06-02-2021
TIN CẬP NHẬT
TIN CHUYÊN NGÀNH
LỊCH HỘI NGHỊ MỚI
Năm 2020

BVĐK Phương Chi, Thứ bảy ngày 27 tháng 03 năm 2021

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI
ĐỐI TÁC
FACEBOOK